CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP Từ khi có cạnh tranh từ đáng kể trở lên nhiều doanh nghiệp Việt Nam nhận biết sâu sắc thêm rằng: Chất lượng quản lý là nhân tố quyết định nhiều nhất sức cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh, tồn tại và phát triển. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp chuyển trọng tâm vào cạnh tranh giành dật 3 loại người tài: cán bộ quản lý giỏi, chuyên gia công nghệ và thợ lành nghề. Đội ngũ cán bộ quản lý giỏi là loại người tài có vai trò quyết định lớn nhất ở doanh nghiệp.Thực tiễn phát triển hoạt động của doanh nghiệp đòi hỏi lý luận phải trả lời rõ ràng, cụ thể được đồng thời cả 3 câu hỏi là: tại sao khi có cạnh tranh từ đáng kể trở lên phải thường xuyên nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp; nâng cao từ bao nhiêu lên bao nhiêu; nâng cao bằng cách nào.1 Cơ sở lý thuyết về quản trị chất lượng. Khái niệm chất lượng đựợc các đối tượng hiểu theo các ý nghĩa khác nhau.
Chất lượng là sự phù hợp của sản phẩm với mục đích sử dụng của người tiêu dùng, hay nói cách khác, chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Chẳng hạn trong cuốn “Chất lượng là cái cho không”, Philip Crosby định nghĩa: “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”. Hoặc theo tiến sỹ Ewarrd Deming: “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng hay sự thỏa mãn của khách hàng”. Quản trị chất lượng là hoạt động được đề cập ở nhiều góc độ.
Tuy nhiên trên thế giới hiện nay đang tồn tại một số cách tiếp cận chủ đạo: -Theo các học giả của nền kinh tế thị trường: Quản trị là quá trình làm việc thông qua đối tượng khác nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức trên cơ sở các nguồn lực nhất định. Mai Xuân Vinh 3 CH QTKD BKHN 2011-2013 Đề tài: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL tại công ty TTHG – Vinacomin - Theo các học giả trong nền kinh tế kế hoạch tập trung: Quản trị là quá trình tác động hướng đích của chủ thể vào khách hàng để đạt được các mục tiêu đã đề ra trên cơ sở các nguồn lực nhất định. Như vậy, có rất nhiều cách tiếp cận về quản trị, việc lựa chọn cách áp dụng tùy thuộc vào quan điểm, nhận định của mỗi nhà quản trị.2 Quan hệ giữa hiệu quả kinh doanh với chất lượng quản lý hoạt động và với chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp Để doanh nghiệp tồn tại và phát triển được khi có cạnh tranh từ đáng kể trở lên chúng ta cần phải hiểu, quán triệt bản chất và mục đích hoạt động của doanh nghiệp trong giải quyết tất cả các vấn đề, các mối quan hệ của hoặc liên quan đến quá trình kinh doanh, nhận thức và đầu tư thỏa đáng cho quản lý doanh nghiệp. Trong kinh tế thị trường hoạt động của doanh nghiệp là quá trình đầu tư, sử dụng các nguồn canh tranh với các đối thủ phần nhu cầu của thị trường, tạo lập hoặc củng cố vị thế với kỳ vọng đạt hiệu quả cao bền lâu nhất có thể.
Doanh nghiệp là đơn vị tiến hành một hoặc một số hoạt động kinh doanh, là tổ chức làm kinh tế. Doanh nghiệp có thể sản xuất kinh doanh, kinh doanh thương mại, kinh doanh dịch vụ. Như vậy, bản chất của hoạt động của doanh nghiệp là đầu tư, sử dụng các nguồn lực tranh giành với các đối thủ phần nhu cầu của thị trường, những lợi ích phát sinh. Mục đích hoạt động của doanh nghiệp là đạt được hiệu quả cao nhất, bền lâu nhất có thể.
Theo quyển số 15, tr 15, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là kết quả tương quan, so sánh những lợi ích thu được từ hoạt động của doanh nghiệp quy tính thành tiền với tất cả các chi phí cho việc có được các lợi ích đó cũng quy tính thành tiền. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là tiêu chuẩn được sáng tạo để đánh giá, lựa chọn mỗi khi cần thiết. Do đó, cần tính toán tương đối chính xác và có chuẩn mực để so sánh. Để tính toán được hiệu quả hoạt động của doanh Mai Xuân Vinh 4 CH QTKD BKHN 2011-2013 Đề tài: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL tại công ty TTHG – Vinacomin nghiệp trước hết cần tính toán được toàn bộ các lợi ích và toàn bộ các chi phí tương thích.
Do lợi ích thu được từ hoạt động của doanh nghiệp cụ thể hàng năm thường rất phong phú, đa dạng hữu hình và vô hình ( tiền tăng thêm, kiến thức, ký năng tăng thêm, quan hệ tăng thêm, tăng thêm về công ăn việc làm, cân bằng hơn về phát triển kinh tế, thu nhập, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, môi trường chính trị - xã hội …) nên cần nhận biết, thống kê cho hết và biết cách quy tính tương đối chính xác ra tiền. Nguồn lực được huy động, sử dụng cho hoạt động của doanh nghiệp cụ thể trong năm thường bao gồm nhiều loại, nhiều dạng, vô hình và hữu hình và có loại chỉ tham gia một phần nên cần nhận biết, thống kê đầy đủ và bóc tách – quy tính ra tiền cho tương đối chính xác. Mỗi khi phải tính toán, so sánh các phương án, lựa chọn một phương án đầu tư kinh doanh cần đánh giá, xếp loại A, B, C mức độ tác động, ánh hưởng đến tình hình chính trị - xã hội và môi trường sinh thái như sau: Bảng 1.1: Bảng các hệ số xét tính lợi ích xã hội – chính trị và ảnh hưởng đến môi trường trong việc xác định, đánh giá hiệu quả sản xuất công nghiệp Việt Nam. Giai đoạn Loại ảnh hưởng 2006-2010 2011-2015 2016-2020 Xã hội-chính trị 1,35 1,25 1,15 Loại A Môi trường 1,2 1,3 1,45 Xã hội-chính trị 1 1 1 Loại B Môi trường 1 1 1 Xã hội-chính trị 0,8 0,85 0,9 Loại C Môi trường 0,8 0,75 0,7 Nguồn [ 14, tr16] Mai Xuân Vinh 5 CH QTKD BKHN 2011-2013 Đề tài: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL tại công ty TTHG – Vinacomin Sau khi đã quy tính, hàng năm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được nhận biết, đánh giá trên cơ sở các chỉ tiêu: Lãi( Lỗ), Lãi / tổng tài sản.
Trong kinh tế thị trường doanh nghiệp tiến hành kinh doanh là tham gia cạnh tranh. Vị thế cạnh tranh( lợi thế so sánh) của doanh nghiệp chủ yếu quyết định mức độ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Khi nền kinh tế của đất nước hội nhập với kinh tế khu vực, kinh tế thế giới doanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội, đồng thời phải chịu thêm nhiều sức ép mới. Trong bối cảnh đó doanh nghiệp nào tụt lùi, không tiến so với trước, tiến chậm so với các đối thủ là tụt hậu, là thất thế trong canh tranh, là vị thế cạnh tranh thấp kém hơn, là bị đối thủ mạnh hơn thao túng, là hoạt động hiệu quả thấp hơn, xuất hiện nguy cơ phá sản, dễ đi đến đổ vỡ hoàn toàn.
Đối thủ cạnh tranh Ta 1 < 2 T1 T2 Thời gian Hình 1.1 Vị thế cạnh tranh () quyết định hiệu quả Thực tế của Việt Nam từ trước đến nay và thực tế của các nước trên thế giới luôn chỉ ra rằng: Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp chủ yếu do trình độ (năng lực) lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp đó quyết định. Quản lý doanh nghiệp viết đầy đủ là quản lý hoạt động của doanh nghiệp, nó bao gồm các quản lý chiến lược và quản lý điều hành. Quản lý chiến lược bao gồm: Hoạch định chiến lược, thẩm định chiến lược và chỉ đạo Mai Xuân Vinh 6 CH QTKD BKHN 2011-2013 Đề tài: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL tại công ty TTHG – Vinacomin thực hiện chiến lược. Hoạch định chiến lược là xác định mục tiêu chiến lược, các cặp sản phẩm khách – hàng chiến lược và các nguồn lực chiến lược.
Doanh nghiệp làm ăn lớn khi có cạnh tranh đáng kể muốn đạt hiệu quả cao không thể không có chiến lược kinh doanh, quản lý chiến lược. Quản lý điều hành hoạt động của doanh nghiệp là biết cách tác động đến những con người, nhóm người để họ tạo ra và luôn duy trì ưu thế về chất lượng, giá, thời hạn của sản phẩm, thuận tiện cho khách hàng. Quản lý doanh nghiệp một cách bài bản, có đầy đủ căn cứ khoa học là nhân tố quan trọng nhất của hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Quản lý hoạt động của doanh nghiệp được nhìn nhận từ nhiều phương diện, từ quá trình kinh doanh là thực hiện các thao tác tư duy, trí tuệ của 6 công đoạn sau đây: Chọn các cặp sản phẩm – khách hàng: *Cạnh tranh vay vốn *Cạnh tranh mua các yếu tố đầu vào *Tổ chức quá trình kinh doanh *Cạnh tranh bán sản phẩm đầu ra *Chọn phương án sử dụng kết quả kinh doanh… Nếu có yếu kém dù chỉ trong một công đoạn nêu ở trên là hiệu lực quản lý kém, hiệu quả kinh doanh thấp.
Theo quy trình quản lý hoạt động của doanh nghiệp là thực hiện đồng bộ bốn loại công việc sau: - Hoạch định: Lựa chọn các cặp sản phẩm – khách hàng và lập kế hoạch thực hiện. - Đảm bảo tổ chức bộ máy và tổ chức cán bộ. - Điều phối hoạt động của doanh nghiệp. - Kiểm tra Mai Xuân Vinh 7 CH QTKD BKHN 2011-2013 Đề tài: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL tại công ty TTHG – Vinacomin Không thực hiện hoặc thực hiện không tốt dù chỉ một loại công việc nêu ở trên là hiệu lực quản lý kém, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thấp.
Trình độ ( năng lực, chất lượng ) lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp được nhận biết, đánh giá trên cở sở chất lượng thực hiện 6 công đoạn nêu ở trên. Chất lượng Trình độ và Chất lượng Khả năng quản lý hoạt động cơ làm sản phẩm cạnh tranh động của việc của đa số của sản phẩm doanh NLĐ nghiệp Trình độ khoa Giá thành sản Hiệu quả kinh học, công nghệ phẩm doanh Hình 1.2 : Quá trình tác động của chất lượng quản lý đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nguồn [ 15, tr 354] Chất lượng quản lý doanh nghiệp được nhận biết, đánh giá thông qua hiệu lực quản lý. Hiệu lực quản lý được nhận biết, đánh gía thông qua chất lượng của các quyết định, biện pháp quản lý.
Chất lượng của các quyết định, biện pháp quản lý phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của các cơ sở, căn cứ.