Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu Nội dung chương trình bày khái quát về lý do chọn đề tài, tổng quan tình hình nghiên cứu, xây dựng mục tiêu và phạm vi nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu và nêu lên ý nghĩa của đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Trình bày về cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài, xây dựng mô hình nghiên cứu làm cơ sở thực hiện cho đề tài nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày quy trình nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu được áp dụng, nhằm phát triển mô hình nghiên cứu và xây dựng thang đo chính thức cho mô hình nghiên cứu của luận văn. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 5 Từ kết quả số liệu khảo sát thu được, chương này sẽ tiến hành phân tích và kiểm định thang đo, kiểm định mô hình hồi quy và các giả thuyết đặt ra của mô hình nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã tại thành phố Dĩ An đến năm 2030 Chương này sẽ tiến hành tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã qua đó góp phần xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã của thành phố.
6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực 2. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực nói một cách nôm na, được hiểu là nguồn lực của mỗi một con người, gồm có thể lực và trí lực. Về mặt thể lực, nó phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, chế độ y tế, tuổi tác, thời gian công tác, giới tính, v.
về mặt trí lực của con người bao gồm tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách (Nguyễn Thanh Hội, 2002) Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định (Trần Kim Dung, 2011) Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (Thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển. Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Vì vậy, có thể định nghĩa: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng 7 hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm khá rộng. Chất lượng nguồn nhân lực bao gồm những nét đặc trưng của một con người có, nó được biểu hiện thông qua các chỉ số: sức khỏe, trình độ chuyên môn, học vấn và phẩm chất. Chất lượng nguồn nhân lực chịu sự ảnh hưởng của phát triển kinh tế xã hội và các chính sách đầu tư phát triển nguồn lực của chính phủ (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh). Theo quan điểm của Bùi Văn Nhơn về chất lượng nguồn nhân lực, ông cho rằng: chất lượng nguồn nhân lực bao gồm ba yếu tố chính: trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội.
Dựa theo những quan điểm mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra, chất lượng nguồn nhân lực có thể hiểu là những giá trị của con người bao gồm các yếu tố về phẩm chất, trí tuệ và thể chất, có thể hiểu như sau: Tâm lực: còn được gọi là phẩm chất, chính là tác phong, tinh thần - ý thức trong lao động như: tác phong công nghiệp (khẩn trương, đúng giờ.), có ý thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo, năng động trong công việc; có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý, tinh thần mà một người lao động có như sự tương tác với đồng nghiệp, quản lý, tác phong trong công việc (giờ giấc đi làm, thời gian hoàn thành công việc…), ý thức và trách nhiệm trong những công việc được giao. Trí lức hay còn được gọi là trí tuệ, là trình độ học vấn, năng lực trí tuệ mà một người lao động có. Trí tuệ bao gồm cả năng lực làm việc, kinh nghiệm trong công việc. Trí tuệ là yếu tố quan trọng quyết định phần lớn hiệu quả trong công việc mà người lao động được giao.
Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi tất cả những gì thúc đẩy con người hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của 8 họ. Khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy nguồn lực con người, bao gồm trình độ tổng hợp từ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng lao động. Trình độ văn hoá, với một nền tảng học vấn nhất định, là cơ sở cho phát triển trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trình độ chuyên môn kỹ thuật là điều kiện đảm bảo cho nguồn nhân lực hoạt động mang tính chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá.
ỹ năng lao động theo từng ngành nghề, lĩnh vực là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực ở xã hội công nghiệp Thể chất: hay còn được gọi là thể lực, là trạng thái sức khỏe, tinh thần của người lao động trong công việc. Mọi công việc dù nặng hay nhẹ đều đòi hỏi người lao động cần có thể lực tốt, có vậy công việc mới đạt được hiệu quả cao 2. Tầm quan trọng của chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng trong sự phát triển của mọi hoạt động trong xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là một vũ khí mạnh trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh với các đối thủ.
Nó không chỉ giúp cho các doanh nghiệp gia tăng sản xuất mà còn góp phần tạo doanh nghiệp thành một khối vững mạnh về sự đoàn kết. Vai trò của chất lượng nguồn nhân lực không chỉ thực hiện việc sản xuất mà còn giúp định hướng, thúc đẩy quá trình thực hiện các chính sách hoạt động. Chất lượng nguồn nhân lực là chiếc gương phản ánh các hoạt động về kinh tế, văn hóa, quá trình đổi mới của doanh nghiệp. Chất lượng nguồn nhân lực được xem là chỉ tiêu phản ánh trình độ kinh tế và là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội.
Chất lượng nguồn nhân lực cao tạo ra động lực phát triển, thể hiện mức độ văn minh của một xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Khái niệm cán bộ công chức cấp xã Cán bộ, công chức cấp xã theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: Cán bộ và công chức có những tiêu chí chung là: Công dân Việt Nam; trong biên chế; hưởng lương từ ngân sách nhà nước (trường hợp công chức làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì tiền lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật); giữ một công vụ thường xuyên; làm việc trong công sở; được phân định theo cấp hành chính (cán bộ ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cấp xã; công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; công chức cấp xã). Bên cạnh đó, giữa cán bộ và công chức được phân định rõ theo tiêu chí riêng, gắn với nguồn gốc hình thành.
Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội. Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, như sau: - Cán bộ cấp xã có các chức vụ: + Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; + Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; + Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; + Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; 10 + Bí thư ĐTNCS Hồ Chí Minh; + Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; + Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam; + Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. - Công chức cấp xã có các chức danh: + Trưởng Công an + Chỉ huy trưởng Quân sự; + Văn phòng - thống kê; + Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường; + Tài chính - kế toán; + Tư pháp - hộ tịch; + Văn hóa - xã hội Đặc điểm của cán bộ, công chức cấp xã Là đội ngũ có số lượng lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức, triển khai thực hiện thắng lợi các chủ trương, đƣờng lối của Đảng, các chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Công chức cấp xã là những người được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cán bộ công chức cấp xã do cấp huyện quản lý.