Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới kinh tế và hội nhập quốc tế sâu rộng, ngành hàng không dân dụng Việt Nam đã đạt được những bước tăng trưởng vượt bậc. Giai đoạn 1994 - 2004, các cảng hàng không trên toàn quốc đã phục vụ 72,86 triệu lượt hành khách với mức tăng trưởng bình quân 10%/năm và vận chuyển 1,6 triệu tấn hàng hóa với mức tăng bình quân 14%/năm. Đến năm 2005, tổng thị trường vận tải hàng không nội địa và quốc tế đạt 14 triệu lượt khách với sự tham gia khai thác thường lệ của gần 30 hãng hàng không quốc tế. Trong chuỗi giá trị hàng không, nhiên liệu là yếu tố huyết mạch bảo đảm các chuyến bay vận hành liên tục và an toàn tuyệt đối, chiếm tới 26% tổng chi phí hoạt động của toàn ngành hàng không thế giới (tương đương 112 tỷ USD vào năm 2006 theo số liệu từ Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế IATA).

Trước thềm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Công ty Xăng dầu Hàng không Việt Nam (VINAPCO) đứng trước áp lực xóa bỏ thế độc quyền nhà nước và phải cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn dầu khí đa quốc gia. Xuất phát điểm ban đầu của doanh nghiệp còn nhiều khó khăn với số vốn khiêm tốn 36 tỷ đồng (trong đó ngân sách cấp 15 tỷ đồng và vốn tự bổ sung 21 tỷ đồng) cùng hệ thống 29 xe tra nạp cũ của Liên Xô.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là hệ thống hóa lý luận về quản trị chất lượng dịch vụ xăng dầu hàng không, phân tích thực trạng năng lực cung ứng của VINAPCO giai đoạn 2001 - 2005, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ đến năm 2010. Phạm vi nghiên cứu bao quát các xí nghiệp thành viên, kho cảng đầu nguồn và hệ thống sân bay trọng điểm như Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Phú Bài, Cam Ranh, Chu Lai. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn lớn, giúp doanh nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu hàng năm từ 9,8% đến 21%, bảo toàn vốn và chuẩn hóa chất lượng theo chuẩn mực quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận kinh tế học dịch vụ của Các Mác kết hợp hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật TCVN 5814-1994, ISO 8402:1994 và bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9001-2000 mà VINAPCO chính thức được cấp chứng nhận vào tháng 2 năm 2002. Theo đó, sản phẩm dịch vụ xăng dầu hàng không là kết quả của chuỗi hoạt động lao động nhằm cung ứng hiệu lực hữu ích, bao gồm các khâu: vận chuyển, tiếp nhận, bảo quản, cấp phát và tra nạp nhiên liệu Jet A-1 cho tàu bay.

Khung phân tích của luận văn vận dụng mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ của Berry và Parasuraman với 7 tiêu chí trọng tâm: Sự tin cậy, Tính chính xác, Tinh thần trách nhiệm, Sự an toàn, Sự thuận tiện, Giá cả dịch vụ và Tính hữu hình. Nghiên cứu cũng kết hợp mô hình hệ thống sản xuất cung ứng dịch vụ gồm 5 thành tố tương tác: Cơ sở vật chất, Khách hàng, Nhân viên giao tiếp, Dịch vụ và Tổ chức nội bộ. Để phân tích các yếu tố nội sinh ảnh hưởng đến chất lượng, tác giả sử dụng nguyên tắc quản trị 4M (Men - Con người, Methods - Phương pháp quản trị, Machines - Máy móc thiết bị, Materials - Vật tư nguyên liệu), làm rõ 4 đặc tính cơ bản của dịch vụ hàng không: tính vô hình, tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng, tính không đồng nhất và tính không thể lưu kho dự trữ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp linh hoạt giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng dựa trên hai nguồn dữ liệu chính. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, báo cáo tài chính, tài liệu thống kê kỹ thuật của VINAPCO giai đoạn 2001 - 2005, cùng số liệu thống kê ngành từ Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO) và Hiệp hội Hàng không Châu Á - Thái Bình Dương (AAPA).

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phương pháp điều tra bảng hỏi tại các sân bay trọng điểm trên cả nước. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 120 phiếu khảo sát đánh giá chất lượng dịch vụ tra nạp, được phát trực tiếp cho 3 nhóm đối tượng: cơ trưởng các chuyến bay, nhân viên kỹ thuật mặt đất (thợ máy) và đại diện các hãng hàng không nội địa, quốc tế tại 3 miền Bắc, Trung, Nam. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo khu vực địa lý và loại hình khách hàng nhằm bảo đảm tính đại diện cao nhất. Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian, phân tích nhân tố 4M và tổng hợp hóa biện chứng lịch sử. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác mức độ hài lòng của khách hàng, nhận diện rõ các điểm nghẽn kỹ thuật và tổ chức điều hành trong chuỗi cung ứng thực tế tại thời điểm nghiên cứu năm 2006.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hoạt động sản xuất kinh doanh của VINAPCO đạt tốc độ tăng trưởng liên tục nhưng đối mặt với sự biến động lớn về tài chính công. Giai đoạn 2001 - 2005, sản lượng bán nhiên liệu hàng không luôn vượt kế hoạch đề ra, đạt tỷ lệ hoàn thành từ 104,9% đến 117,5%. Doanh thu toàn công ty tăng trưởng từ 9,8% đến 21%/năm, giúp bảo toàn và phát triển vốn nhà nước với mức tích lũy tăng vốn hàng năm đạt từ 7% đến 10%. Tuy nhiên, mức nộp ngân sách có xu hướng suy giảm từ năm 2002 đến năm 2005 do Nhà nước điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu xăng dầu (từ đỉnh 60% xuống mức 0%) để bình ổn thị trường khi giá dầu thô thế giới tăng vọt từ 22 USD/thùng năm 2000 lên 78 USD/thùng vào tháng 7 năm 2006.

Thứ hai, hạ tầng phương tiện tra nạp có sự mở rộng về số lượng nhưng cơ cấu kỹ thuật còn lạc hậu. Đội xe tra nạp đã tăng từ 29 chiếc khi thành lập lên 51 chiếc vào năm 2005 với tổng dung tích 1.120 m3. Mặc dù số lượng xe xuất xứ từ Mỹ tăng từ 10 chiếc năm 2002 lên 17 chiếc năm 2005, nhưng các dòng xe cũ của Liên Xô vẫn chiếm tỷ trọng chi phối với 32 chiếc (tương đương 62,7% tổng số xe tra nạp), gây hạn chế lớn về tốc độ bơm và tính tương thích với các dòng tàu bay hiện đại.

Thứ ba, hệ thống kho cảng đầu nguồn và phương tiện vận chuyển đường bộ còn thiếu đồng bộ. Toàn công ty có 36 bồn chứa tại các sân bay với tổng sức chứa hơn 44.000 m3, nhưng kho cảng đầu nguồn trực tiếp tiếp nhận tàu biển chỉ có duy nhất Kho Liên Chiểu tại Đà Nẵng với 5 bồn chứa (tổng dung tích 13.400 m3). Tại miền Bắc và miền Nam, công ty hoàn toàn phải đi thuê kho ngoài hoặc chờ triển khai dự án kho Nhà Bè 50.000 m3. Đội xe vận tải gồm 75 xe bồn (dung tích bình quân 16 m3/xe) thì có trên 50 xe (chiếm 66,7%) sẽ hết niên hạn sử dụng trước năm 2010 theo quy định pháp luật.

Thứ tư, cơ cấu thị trường khách hàng phân hóa rõ nét: nhóm khách hàng nội địa (Vietnam Airlines, Pacific Airlines, VASCO) chiếm 70% - 75% sản lượng tiêu thụ, trong khi 29 hãng hàng không quốc tế khai thác đường bay đến Việt Nam chiếm 25% - 30% sản lượng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế chất lượng dịch vụ xuất phát từ nhóm nhân tố 4M nội tại kết hợp với tác động cơ chế quản lý. Về thiết bị (Machines) và vật tư (Materials), việc thiếu kho cảng đầu nguồn tại hai đầu đất nước khiến công ty không thể chủ động tồn trữ nhiên liệu khi giá thế giới hạ, đồng thời lượng dự trữ tại các kho sân bay chỉ đủ duy trì trong vài ngày. Khi có sự cố giao thông đường bộ hoặc chậm trễ tàu biển, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng cục bộ là rất cao.

Các dữ liệu nghiên cứu được phản ánh trực quan qua Bảng 2.1 về sản lượng kinh doanh 5 năm và Biểu đồ cơ cấu xuất xứ phương tiện tra nạp giai đoạn 2002 - 2005. Bảng số liệu làm nổi bật mức độ hoàn thành vượt chỉ tiêu sản lượng từ 4,9% đến 17,5%, trong khi biểu đồ phản ánh rõ sự phụ thuộc nặng nề vào các dòng xe cơ giới cũ. Khi đối chiếu với bài học kinh nghiệm từ Cục Hàng không Singapore tại Sân bay Quốc tế Changi (nơi phục vụ hơn 80 hãng hàng không kết nối 180 thành phố toàn cầu), việc xây dựng hệ thống tra nạp nhiên liệu ngầm và kho ngoại quan đồng bộ là giải pháp then chốt để rút ngắn thời gian quay đầu tàu bay và nâng cao năng suất phục vụ.

Về con người (Men) và phương pháp (Methods), trình độ ngoại ngữ, năng lực phân tích thị trường và tác phong phục vụ của đội ngũ cán bộ, công nhân viên chưa đáp ứng yêu cầu quốc tế. Tình trạng tư vấn dịch vụ đại khái và xử lý thủ tục hành chính chậm trễ đã làm giảm chỉ số hài lòng của khách hàng trên các tiêu chí Tính chính xác, Tinh thần trách nhiệm và Sự thuận tiện.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tập trung đầu tư và hoàn thiện mạng lưới kho cảng đầu nguồn. Đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng và xây dựng để đưa Kho xăng dầu Nhà Bè dung tích 50.000 m3 vào khai thác vào cuối năm 2007 - đầu năm 2008; đồng thời xúc tiến triển khai dự án xây dựng kho đầu nguồn độc lập tại khu vực Đình Vũ (Hải Phòng) với sức chứa khoảng 50.000 m3 nhằm bảo đảm nguồn nhiên liệu dự trữ chiến lược cho các sân bay miền Bắc. Chủ thể thực hiện: Ban Giám đốc và Phòng Kỹ thuật Đầu tư.

Thứ hai, hiện đại hóa đội phương tiện tra nạp và vận tải chuyên dụng. Đầu tư mua mới 85 xe bồn vận tải dung tích lớn trước năm 2010 để thay thế toàn bộ hơn 50 xe hết niên hạn sử dụng; mua sắm bổ sung các xe tra nạp công nghệ mới từ Mỹ và các nước phát triển để nâng tổng số xe tra nạp toàn công ty lên trên 65 chiếc. Thí điểm lắp đặt hệ thống tra nạp ngầm tại Cảng Hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất và Nội Bài nhằm cắt giảm 25% thời gian tra nạp cho các tàu bay thân rộng. Chủ thể thực hiện: Xí nghiệp Dịch vụ Vận tải và các Xí nghiệp Xăng dầu Hàng không 3 miền.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình kiểm soát chất lượng nhiên liệu Jet A-1 theo chuẩn mực quốc tế. Thực hiện nghiêm ngặt quy trình kiểm tra 7 bước từ khâu tiếp nhận tại cảng đầu nguồn đến cánh máy bay theo hướng dẫn kỹ thuật nội bộ và quy định ICAO. Đảm bảo 100% lô nhiên liệu xuất kho tra nạp đạt chỉ số màu Saybolt lớn hơn 22 và có đầy đủ chứng thư giám định chất lượng độc lập. Chủ thể thực hiện: Phòng Hóa nghiệm và Đội ngũ Kỹ thuật viên kiểm định.

Thứ tư, đổi mới công tác quản trị và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Triển khai các khóa đào tạo lại định kỳ cho 100% nhân viên giao tiếp khách hàng, nhân viên kỹ thuật tra nạp về ngoại ngữ chuyên ngành hàng không, kỹ năng giao tiếp thấu cảm và kiến thức luật hàng không quốc tế giai đoạn 2006 - 2010. Xây dựng cơ chế lương thưởng gắn liền với mức độ hài lòng của khách hàng. Chủ thể thực hiện: Phòng Tổ chức Cán bộ.

Thứ năm, kiến nghị cơ chế chính sách đối với cơ quan quản lý Nhà nước. Đề xuất Bộ Giao thông Vận tải và Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam hoàn thiện khung pháp lý về quản lý giá xăng dầu hàng không linh hoạt, đơn giản hóa quy trình hải quan tạm nhập tái xuất nhiên liệu và ưu tiên phân bổ quỹ đất mở rộng kho chứa tại các sân bay địa phương mới nâng cấp như Chu Lai, Côn Đảo, Điện Biên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, ban lãnh đạo và các nhà quản trị doanh nghiệp xăng dầu, năng lượng: Luận văn cung cấp mô hình phân tích toàn diện chuỗi cung ứng xăng dầu từ kho cảng đầu nguồn đến dịch vụ tra nạp cuối cùng, hỗ trợ công tác lập kế hoạch đầu tư phương tiện, quản trị rủi ro biến động giá và chuyển đổi mô hình quản trị theo chuẩn ISO 9001-2000 khi thị trường xóa bỏ thế độc quyền.

Thứ hai, đội ngũ kỹ sư, chuyên viên kỹ thuật và điều hành khai thác mặt đất tại các sân bay: Tài liệu cung cấp hướng dẫn chi tiết về quy trình 7 bước kiểm soát chất lượng nhiên liệu Jet A-1, các yêu cầu kỹ thuật về độ màu Saybolt, phương pháp vận hành xe tra nạp và hệ thống tra nạp ngầm bảo đảm an toàn phòng chống cháy nổ tuyệt đối theo tiêu chuẩn ICAO.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Quản trị Kinh doanh, Logistics và Kinh tế Vận tải: Công trình là nguồn tài liệu học thuật giá trị về phương pháp đánh giá chất lượng dịch vụ đặc thù, kết hợp giữa mô hình 7 tiêu chí của Parasuraman và phương pháp phân tích nhân tố 4M trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ tư, các chuyên viên hoạch định chính sách tại Bộ Giao thông Vận tải, Cục Hàng không Dân dụng và Tổng cục Hải quan: Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ việc xây dựng cơ chế quản lý giá nhiên liệu hàng không, chính sách thuế nhập khẩu linh hoạt và quy hoạch mạng lưới hạ tầng kỹ thuật nhiên liệu đồng bộ tại hệ thống 57 đường bay kết nối quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Dịch vụ xăng dầu hàng không có những đặc tính kỹ thuật nào khác biệt so với dịch vụ xăng dầu thương mại thông thường? Dịch vụ xăng dầu hàng không có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời tại sân đỗ, không thể lưu kho dịch vụ và đòi hỏi an toàn tuyệt đối. Nhiên liệu Jet A-1 phải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt như độ Saybolt lớn hơn 22, tuyệt đối không lẫn nước hoặc tạp chất cơ học để bảo đảm an toàn cho các chuyến bay.

Tại sao mô hình 7 tiêu chí của Berry và Parasuraman lại phù hợp để đánh giá chất lượng dịch vụ của VINAPCO? Mô hình này đo lường chính xác khoảng cách giữa kỳ vọng của các hãng hàng không và chất lượng thực tế nhận được. Với 7 tiêu chí gồm Tin cậy, Chính xác, Trách nhiệm, An toàn, Thuận tiện, Giá cả và Hữu hình, doanh nghiệp có thể lượng hóa rõ nét sự hài lòng của cơ trưởng và thợ máy về thời gian, khối lượng và văn hóa phục vụ.

Điểm nghẽn lớn nhất trong hệ thống kho cảng của VINAPCO giai đoạn 2002 - 2005 là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là sự mất cân đối hạ tầng: công ty có 36 bồn chứa tại sân bay với dung tích hơn 44.000 m3 nhưng chỉ có duy nhất Kho Liên Chiểu dung tích 13.400 m3 là kho cảng biển đầu nguồn. Doanh nghiệp hoàn toàn phải thuê kho ngoài tại miền Bắc và miền Nam, làm tăng chi phí và giảm tính chủ động dự trữ.

Việc ứng dụng hệ thống tra nạp nhiên liệu ngầm mang lại lợi ích gì so với sử dụng xe tra nạp cơ giới? Hệ thống tra nạp ngầm giúp nạp liên tục khối lượng nhiên liệu trên 100 m3 cho các tàu bay thân lớn mà không cần thay đổi nhiều xe tra nạp dung tích 20 - 30 m3. Giải pháp này giúp cắt giảm khoảng 25% thời gian tra nạp tại sân đỗ, giảm mật độ phương tiện cơ giới và hạn chế nguy cơ va chạm trên sân bay.

Doanh nghiệp xăng dầu hàng không cần chuẩn bị những gì để cạnh tranh khi thị trường xóa bỏ cơ chế độc quyền? Doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy phục vụ khách hàng, đầu tư kho Nhà Bè 50.000 m3, thay mới 85 xe bồn trước năm 2010, nâng cấp trình độ ngoại ngữ chuyên môn cho 100% nhân viên và áp dụng chính sách giá linh hoạt để cạnh tranh với các hãng quốc tế như Shell hay BP.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ xăng dầu hàng không, tích hợp thành công mô hình 7 tiêu chí của Parasuraman, nguyên tắc quản trị 4M và bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9001-2000.
  • Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng sản xuất kinh doanh giai đoạn 2001 - 2005 với doanh thu tăng trưởng từ 9,8% đến 21%/năm, đồng thời chỉ ra điểm nghẽn kỹ thuật khi 62,7% xe tra nạp là dòng xe cũ của Liên Xô và phụ thuộc vào kho thuê ngoài.
  • Đóng góp hệ thống 5 nhóm giải pháp thực tiễn từ phía doanh nghiệp, nổi bật là mục tiêu đưa Kho xăng dầu Nhà Bè dung tích 50.000 m3 vào khai thác giai đoạn 2007 - 2008 và thay mới 85 xe bồn trước năm 2010.
  • Đề xuất quy trình kiểm soát chất lượng 7 bước nghiêm ngặt và giải pháp đào tạo chuẩn hóa ngoại ngữ, bảo đảm mục tiêu an toàn kỹ thuật 100% cho mọi hoạt động bay.
  • Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp trong ngành năng lượng - hàng không hãy tham khảo và ứng dụng các kết quả nghiên cứu này để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu.