Đặt vấn đề Từ góc nhìn của doanh nghiệp, xu hướng toàn cầu hoá mang đến cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn nhưng cũng kèm theo những khó khăn. Một trong những khó khăn lớn nhất là sự cạnh tranh gay gắt khi cơ hội tiếp cận mọi ngóc ngách của thị trường được từng bước mở rộng cho tất cả các doanh nghiệp. Khách hàng ngày nay có nhiều sự lựa chọn, đặc biệt khi khách hàng lựa chọn sử dụng dịch vụ do các doanh nghiệp cung cấp, do đó các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ rất cần quan tâm làm hài lòng và thoả mãn khách hàng của mình. Ngành dịch vụ logistics cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
Nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng ngày càng cao và phức tạp, các doanh nghiệp dịch vụ logistics ngày nay cũng phải đối mặt với rất nhiều thách thức, đặc biệt khi việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt hiện nay khi thị trường mở cửa. Việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dịch vụ logistics nói riêng mang lại những điểm tích cực như tạo động lực phát triển kinh doanh, cải tiến, nâng cao dịch vụ khách hàng. Nhưng xét riêng trong hoàn cảnh mức độ phát triển của các doanh nghiệp dịch vụ logistics tại Việt Nam hiện nay, nơi chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, chủ yếu cung ứng các dịch vụ đơn lẻ, truyền thống, việc cạnh tranh đang là một trong những thách thức lớn nhất. Thêm vào đó, các doanh nghiệp Việt Nam thường gặp khó khăn với đội ngũ lao động, chiến lược kinh doanh thường không có hoặc được xây dựng sơ sài, một số doanh nghiệp vẫn đi theo các hoạt động cạnh tranh ngắn hạn như hạ giá, chụp giật, gây tổn hại cho hình ảnh cũng như sự phát triển chung của ngành.
Những hạn chế của các doanh nghiệp dịch vụ logsitics Việt Nam nếu không được phát hiện và cải thiện kịp thời sẽ là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp dịch vụ logistics có vốn đầu tư nước ngoài có thể từng bước gia tăng thị phần tại thị trường Việt Nam – thị trường đang có tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong nhiều năm trở lại đây. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh thấp của các doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam còn đến từ thực tế các doanh nghiệp có quy mô nhỏ nhưng lại rất thiếu sự liên kết, hợp tác, bổ sung thế mạnh cho nhau. Trước thực tế nhu cầu của khách hàng sẽ ngày càng cao khi xã hội phát triển hơn và khi khách hàng có nhiều lựa chọn hơn, các doanh nghiệp dịch vụ nói chung và 5 dịch vụ logistics nói riêng sẽ ngày càng phải chú trọng tới chất lượng dịch vụ nếu muốn giữ chân khách hàng và từng bước gia tăng thị phần trước khi bị mất khách hàng về tay các doanh nghiệp dịch vụ có vốn đầu tư nước ngoài. Tính cấp thiết của đề tài Làn sóng FTA khi Việt Nam tham gia đa phương và song phương vào các hiệp định thương mại tự do là một cơ hội cho hàng hoá Việt Nam thâm nhập tốt hơn vào thị trường quốc tế.
Theo Báo cáo Logistics Việt Nam 2023, tính chung 9 tháng năm 2023, kim ngạch nhập khẩu hàng hoá đạt 237,99 tỷ USD giảm 13,8% so với cùng kỳ, xuất khẩu đạt 259,67 tỷ USD tăng 8,2% so với cùng kỳ, xuất siêu 21,68 tỷ USD. Ngoại trừ thời kỳ ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng đều hàng năm. Nỗ lực đưa Việt Nam trở thành nước xuất siêu được cả hệ thống chính trị vào cuộc, từ Nhà nước, Chính phủ tới các bộ ngành, từ cơ chế, luật pháp đến các thủ tục,… tất cả đều nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phát huy hết khả năng, nội lực nhằm thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu. Cánh cửa cho hàng hoá của Việt Nam vào các thị trường lớn trên thế giới đã mở về chính sách và thủ tục, tuy nhiên nút thăt hiện nay kìm chế khả năng tăng tốc của xuất khẩu Việt Nam lại nằm ở cơ sở hạ tầng, tính quy hoạch, đồng bộ của các trung tâm logistics và đặc biệt là các doanh nghiệp dịch vụ logistics – nhân tố có vài trò trung tâm trong xúc tiến và làm gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu.
Khi tham gia vào các FTA, đứng trước cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, ngành dịch vụ logistics đứng trước cơ hội phát triển hiếm có nhưng cũng vô vàn khó khăn, thách thức. Tháng 4/2023, sau 4 năm gián đoạn, Ngân hàng Thế giới (WB) công bố bảng xếp hạng Chỉ số hiệu quả Logistics (LPI) năm 2023. Theo đó Việt Nam đứng ở vị trí 43, giảm 4 bậc so với hạng 39 vào lần công bố LPI gần nhất vào năm 2018. Hiện nay tại Việt Nam, chi phí logistics trung bình ở mức tương đương 16,8-17% GDP và còn ở mức khá cao so với mức bình quân chung của thế giới (hiện khoảng 10,6%).
Theo Quyết định số 4432/QĐ-UBND ngày 2/12/2020 của UBND TP. Hồ Chí Minh về việc phê duyệt đề án “Phát triển ngành logistics TP. Hồ Chí Minh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đã xác định: tỷ trọng đóng góp của logistics vào GRDP của Thành phố đến năm 2025 đạt 10% và đến 2030 đạt 12%, góp phần kéo giảm chi phí logistics của cả nước so với GDP quốc gia đến năm 2025 còn khoảng 10-15%. Đề án cũng chỉ ra Tp.
Hồ Chí Minh sẽ xây dựng 8 trung tâm logistics với tổng diện tích hơn 750ha. Chủ trương này cũng góp phần hỗ trợ định hướng cải thiện, 6 gia tăng và phát triển chất lượng dịch vụ và gia tăng vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Và để kéo giảm chi phí logistics, gia tăng tỉ lệ thuê ngoài trong hoạt động logistics, các doanh nghiệp dịch vụ logistics cần có thêm thật nhiều khách hàng và sự hài lòng của khách hàng là điều mọi doanh nghiệp dịch vụ đều mong muốn đạt được bao gồm các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics.
Trước những thực tế đó, các nhà quản trị doanh nghiệp cần dành sự quan tâm nhiều hơn tới chất lượng dịch vụ mà công ty mình cung cấp cũng như mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ với sự hài lòng của khách hàng. Các nhà doanh nghiệp cần thiết lập các chiến lược phát triển doanh nghiệp tích hợp các giải pháp chăm sóc khách hàng hiệu quả trên cơ sở kết hợp giữa phân tích điểm mạnh, điểm yếu trong thực trạng doanh nghiệp và những nghiên cứu về những yếu tố làm thoả mãn khách hàng. Chỉ khi thực hiện một cách đồng bộ, doanh nghiệp mới có thể từng bước gia tăng lợi nhuận, gia tăng thị phần thông qua nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty một cách bền vững. Nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ logistics của các doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn Tp.
Hồ Chí Minh, nhóm tác giả quyết định chọn đề tài: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng khách hàng sử dụng dịch vụ Logistics tại Tp. Hồ Chí Minh”. Thông qua nghiên cứu đề ra các giải pháp cụ thể cho các doanh nghiệp dịch vụ logistics có thể cải thiện dịch vụ và làm hài lòng khách hàng của mình hơn nữa với các dịch vụ doanh nghiệp cung cấp. Mục tiêu nghiên cứu 3.
Mục tiêu nghiên cứu: 3.1 Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu: Đề tài nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ logistics tại Tp. Hồ Chí Minh. Từ đó đề xuất các hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics tại Tp. Hồ Chí Minh nhằm gia tăng sự hài lòng của khách hàng.2 Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu: - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ logistics tại Tp.
Hồ Chí Minh. 7 - Từ đó đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ logistics tại Tp. Hồ Chí Minh. - Qua đó nghiên cứu nhằm đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm gia tăng sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ logistics tại Tp.
Hồ Chí Minh. Câu hỏi nghiên cứu Với cơ sở trên, đề tài đưa ra các câu hỏi nghiên cứu sau: - Với các khách hàng sử dụng dịch vụ logistics tại Tp. Hồ Chí Minh, sự hài lòng của họ chịu tác động của các yếu tố nào? - Các yếu tố đó có mức độ tác động như thế nào đến sự hài lòng của họ khi sử dụng dịch vụ logistics? - Nhằm nâng cao sự hài lòng của họ - những khách hàng sử dụng dịch vụ logistics tại Tp. Hồ Chí Minh, cần đề xuất những hàm ý quản trị nào? 5.
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: là các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ logistics tại địa bàn Tp. Hồ Chí Minh. - Đối tượng khảo sát: là các cá nhân (trên 18 tuổi) có khả năng đưa ra lựa chọn, đưa ra quyết định trong các doanh nghiệp có sử dụng dịch vụ logistics tại địa bàn Tp. Hồ Chí Minh.
- Phạm vi khảo sát: Về không gian: Đề tài có phạm vi nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh với các khách hàng sử dụng dịch vụ logistics trên địa bàn này. Về thời gian: Khảo sát thực hiện trong năm 2024 6. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng cả phương pháp định tính và phương pháp định lượng, cụ thể: - Phương pháp định tính: Được thực hiện bằng việc phỏng vấn sâu và thảo luận với nhóm với các chuyên gia trong lĩnh vực logistics tại Tp. Hồ Chí Minh, qua đó nhằm điều chỉnh, bổ sung các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu, và đó cũng là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện bảng câu hỏi.
- Phương pháp định lượng: Sau khi có dữ liệu, nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để phân tích 300 mẫu dữ liệu nhận được thông qua khảo sát các đối tượng – khách hàng sử dụng dịch vụ logistics. 8 Đánh giá độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha nhằm đánh giá sơ bộ thang đo. Phân tích nhân tố khám phá EFA nhằm tìm ra các nhân tố cho các biến quan sát. Để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, kỹ thuật phân tích hồi quy được sử dụng để kiểm định về tác động của các nhân tố đến sự hài lòng của các khách hàng có sử dụng dịch vụ logistics tại Tp.
Hồ Chí Minh.