CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về dịch vụ phi tín dụng đối với khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm dịch vụ phi tín dụng đối với khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại i. Dịch vụ Cho tới nay chưa có một định nghĩa thống nhất về dịch vụ.
Tính đa dạng, phức tạp, vô hình của các loại hình dịch vụ làm cho việc thống nhất khái niệm dịch vụ trở nên khó khăn. Không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới mỗi quốc gia đều có những cách hiểu dịch vụ khác nhau, chính vì vậy trong hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng không đưa ra khái niệm về dịch vụ mà thay vào đó là sự liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn gồm 155 phân ngành. Còn trong Từ điển Việt Nam của Viện Hàn Lâm Khoa Học Việt Nam (năm 2010) giải thích: “Dịch vụ là các hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt”. Trong cuốn Introducing marketing của tác giả Christopher (năm 1980) thì “sản phẩm dịch vụ là sản phẩm tạo nên hàng loạt những lợi ích không tàng trữ được’”.
Còn theo cuốn “Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại” của tác giả Nguyễn Thị Mơ (năm 2005, nhà xuất bản Lý luận chính trị) đã đưa ra khái niệm về dịch vụ như sau: “Dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trong giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được’”. Có vẻ so với các giải thích của Từ điển Việt Nam thì cách giải thích này đã làm rõ nội hàm của dịch vụ hơn- dịch vụ là kết tinh lao động của con người trong các sản phẩm vô hình. Còn Các Mác (Karl Heinrich Marx) [11] cho rằng: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu 8 thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển”. Như vậy, với định nghĩa trên, C.
Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sự phát triển của dịch vụ, kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụ càng phát triển mạnh. Khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng và dịch vụ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau: từ kinh tế học đến văn hóa học, luật học, từ hành chính học đến khoa học quản lý. Do vậy mà có nhiều khái niệm về dịch vụ theo nghĩa rộng hẹp khác nhau, đồng thời cách hiểu về nghĩa rộng và nghĩa hẹp cũng khác nhau: - Theo nghĩa rộng: Dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của chúng không tồn tại dưới hình dạng vật thể. Hoạt động dịch vụ bao trùm lên tất cả các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, môi trường của từng quốc gia, khu vực nói riêng và toàn thế giới nói chung.
Ở đây dịch vụ không chỉ bao gồm những ngành truyền thống như: giao thông vận tải, du lịch, ngân hàng, thương mại, bao hiểm, bưu chính viễn thông mà còn lan toả đến các lĩnh vực rất mới như: dịch vụ văn hoá, hành hính, bảo vệ môi trường, dịch vụ tư vấn. - Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ là làm một công việc cho người khác hay cộng đồng, là một việc mà hiệu quả của nó đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người, như: vận chuyển, sửa chữa và bảo dưỡng các thiết bị máy móc hay công trình. Một định nghĩa khác về dịch vụ là: dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với sản phẩm vật chất.
Có lẽ định nghĩa mang tính khoa học và phản ánh đúng nhất bản chất của hoạt động dịch vụ là như sau "đó là một hoạt động kinh tế tăng thêm giá trị, hoặc trực tiếp vào một hoạt động kinh tế khác, hoặc vào một hàng hóa thuộc một hoạt động kinh tế khác". Việc quan niệm theo nghĩa rộng hẹp khác nhau về dịch vụ, một mặt tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong một thời kỳ lịch sử cụ thể; mặt khác, còn tùy thuộc vào phương pháp luận kinh tế của từng quốc gia. Những quan niệm khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến chất lượng dịch vụ, đến qui mô, tốc độ phát triển cũng như tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. 9 Như vậy có thể định nghĩa một cách chung nhất về dịch vụ như sau: “Dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thức vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người'.
* Thuộc tính chung của dịch vụ: - Thứ nhất: Dịch vụ mang tính vô hình. Tính vô hình của dịch vụ được tác giả Nguyễn Minh Kiều [12] nhắc tới như sau: “Dịch vụ là những thứ mà khi đem bán không thể rơi vào tay chân bạri'. Neu như sản phẩm là những hàng hóa hữu hình có tính chất cơ, lý, hóa học,. nhất định, có tiêu chuẩn về kỹ thuật cụ thể và do đó có thể sản xuất theo tiêu chuẩn thì dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất bằng những vật phẩm cụ thể, không nhìn thấy được và do đó không thể xác định chất lượng dịch vụ trực tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hóa.
- Thứ hai: Quá trình cung ứng dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời. Khác với quá trình sản xuất hàng hóa- một quá trình tách khỏi lưu thông và tiêu dùng, do đó hàng hóa có thể được lưu kho để dự trữ, có thể vận chuyển đi nơi khác theo nhu cầu của thị trường, quá trình cung ứng dịch vụ gắn liền với tiêu dùng dịch vụ. Khi tính toán sản lượng nền kinh tế, Ban phân tích kinh tế của Bộ Thương mại Mỹ đã định nghĩa khái quát: “Các ngành dịch vụ là những ngành mà sản phẩm của nó không thể được lưu trữ và được tiêu dùng tại thời điểm và nơi diễn ra hoạt động mua bári'. Hay có thể nói, dịch vụ không thể lưu trữ được do quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời, do vậy không thể sản xuất dịch vụ hàng loạt và lưu trữ trong kho sau đó mới tiêu dùng.
- Thứ ba: Tính không ổn định và khó xác định. Chất lượng dịch vụ mang tính không đồng nhất. Dịch vụ gắn chặt với người cung cấp dịch vụ. Chất lượng phụ thuộc chặt chẽ vào người thực hiện dịch vụ (trình độ, kỹ năng,.
Bên cạnh đó, cùng một cá nhân cung ứng dịch vụ thì chất lượng dịch vụ đôi khi cũng thay đổi theo thời gian. Dịch vụ NHTM Hiện nay, tại mỗi quốc gia lại có cách hiểu về dịch vụ mà chưa có sự thống nhất trong định nghĩa. Hiệp định chung về thương mại (GATS) của Tổ chức thương mại Thế Giới cũng không nêu khái niệm dịch vụ mà thay vào đó là chia thành 12 ngành 10 lớn. Trong các ngành lại liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ thể.
Dịch vụ tài chính được xếp thứ 7. Dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảo hiểm và liên quan đên bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác. Theo WTO thì dịch vụ được chia thành 12 ngành cụ thể sau: Dịch vụ kinh doanh, dịch vụ tài chính, dịch vụ liên lạc, dịch vụ xây dựng và thi công, dịch vụ phân phối, dịch vụ liên quan đến sức khỏe và dịch vụ xã hội, dịch vụ vận tải, dịch vụ giáo dục, dịch vụ môi trường, dịch vụ giải trí- văn hóa và thể thao, dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan tới lữ hành và các dịch vụ khác. Trong cuốn sách “Quản trị ngân hàng thương mại” của Peter S.Rose [13] cho rằng : iiNgan hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng , tiết kiệm và các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Và được giải thích “Mọi Ngân hàng hoạt động với ba hoạt động cơ bản là huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và các hoạt động khác như thanh toán, ngân quỹ. ” Đặc điểm của các dịch vụ của NHTM đó là: * Thứ nhất: Quá trình cung ứng dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời, đặc biệt có sự tham gia trực tiếp của khách hàng vào quá trình cung ứng dịch vụ. Đồng thời mỗi dịch vụ lại tuân theo một quy trình nhất định không thể chia cắt được thành các loại dịch vụ khác nhau như quy trình thẩm định, quy trình cho vay,. Dịch vụ NHTM không có dịch vụ dở dang, dịch vụ lưu kho, mà được cung cấp trực tiếp tới cho khách hàng khi khách hàng có nhu cầu.
Do đó, NHTM thường tạo dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ với khách hàng và các ngân hàng khác bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng phát triển hoạt động chăm sóc khách hàng trong đội ngũ nhân viên Ngân hàng và hiện đại hóa hệ thống cung ứng tạo tính đặc biệt cho hoạt động dịch vụ này. * Thứ hai: Tính không ổn định và khó xác định. Chất lượng dịch vụ mang tính không đồng nhất, Dịch vụ gắn chặt với người cung cấp dịch vụ. Chất lượng phụ thuộc chặt chẽ vào người thực hiện dịch vụ (trình độ, kỹ năng.) * Thứ ba: Tính không lưu giữ được.
Các dịch vụ ngân hàng của NHTM mang tính vô hình, không thể lưu kho được. Trong khi đó nhu cầu dịch vụ thường dao 11 động lớn có thời điểm nhu cầu tăng đột bến, song các Ngân hàng cũng không thể sản xuất sẵn rồi đem cất trữ. Chính vì vậy chi phí Dịch vụ ngân hàng tương đối cao. * Thứ tư: Dịch vụ mang tính vô hình.
Đây chính là đặc điểm chính để phân biệt dịch vụ ngân hàng với các dịch vụ của các ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân.