Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Đây là chương đầu tiên của đề tài nhằm giới thiệu tóm tắt về tính cấp thiết, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài. Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng dịch vụ logistics trong doanh nghiệp. Nội dung của chương đề cập đến những kiến thức cơ bản nhất của chất lượng dịch vụ logistics.
Chương 3: Phân tích thực trạng chất lượng dịch vụ logistics của công ty TNHH Thương mại Vận tải và Du lịch Trường Huyền. Đưa ra các số liệu thực tế từ hoạt động công ty trên các nội dung các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ logistics từ đó có thể giúp việc đánh giá các tồn tại, ưu điểm trong chất lượng logistics của công ty, từ đó giúp cho việc đưa ra các giải pháp của công ty trong chương 4. Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty TNHH Thương mại Vận tải và Du lịch Trường Huyền. Kết hợp với dự báo triển vọng ngành logistics tại Việt Nam, chương này đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng logistics của công ty TNHH Thương mại Vận tải và Du lịch Trường Huyền.
5 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG DOANH NGHIỆP 2. Khái quát về dịch vụ logistics 2. Khái niệm dịch vụ logistics Nhiều tác giả đã đưa ra các khái niệm khác nhau liên quan đến dịch vụ Logistics. Có thể kể đến như sau: Theo Luật Thương mại năm 2005, dịch vụ Logistics được định nghĩa cụ thể như sau: “Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
Theo Đoàn Thị Hồng Vân (2006): “Logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí và thời gian, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Theo Nguyễn Quốc Tuấn (2015): “Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống qua các bước nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện các hoạt động, bao gồm các công việc liên quan đến cung ứng, vận tải, theo dõi sản xuất, kho bãi, thủ tục phân phối, hải quan,. Do đó, Logistics là quá trình liên quan tới nhiều hoạt động khác nhau trong cùng một tổ chức, từ xây dựng chiến lược cho đến các hoạt động chi tiết, cụ thể để thực hiện chiến lược”. Có thể thấy nhiều quan điểm đưa ra các khác niệm khác nhau về dịch vụ logistics, tuy nhiên với góc độ tiếp cận nghiên cứu đề tài và sự phù hợp với các nội dung phân tích thực trạng dịch vụ logistics của doanh nghiệp.
Dịch vụ logistics được hiểu là: “Dịch vụ Logistics là những dịch vụ liên quan đến hoạt động đảm bảo tối ưu toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh bao gồm từ việc cung ứng đầu vào đến tiêu thụ sản phẩm, được các doanh nghiệp sản xuất tự tổ chức thực hiện hoặc thuê ngoài mà có tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp trên thị trường”. Đặc điểm, vai trò, phân loại dịch vụ logistics 2. Đặc điểm dịch vụ logistics Bản chất của dịch vụ logistics là một loại hình dịch vụ nên nó mang đầy đủ các đặc điểm của dịch vụ: Dịch vụ logistics có tính vô hình: Dịch vụ logistics không có hình thức vật chất mà chỉ tồn tại dưới dạng các hoạt động quản lý, vận chuyển hàng hóa. Người tiêu dùng không thể nhìn thấy hay chạm vào dịch vụ.
Giá trị của dịch vụ logistics chủ yếu nằm ở 6 các lợi ích phi vật chất mà nó mang lại như tiết kiệm thời gian, chi phí vận chuyển và đảm bảo hàng hóa được vận chuyển đúng lịch trình. Kết quả của dịch vụ logistics chỉ có thể được đánh giá qua hiệu quả hoạt động chung của chuỗi cung ứng hàng hóa chứ không thể đo lường trực tiếp được. Dịch vụ logistics có tính không tách rời: Dịch vụ logistics được sản xuất và tiêu thụ cùng một lúc. Điều này cũng đòi hỏi rằng các dịch vụ logistics không thể tách rời khỏi các nhà cung cấp.
Dịch vụ được bán đầu tiên, sau đó được sản xuất và tiêu thụ cùng một lúc. Một sản phẩm có thể, sau khi sản xuất, được lấy đi từ nhà sản xuất. Tuy nhiên, một dịch vụ được sản xuất tại hoặc gần điểm mua hàng. Dịch vụ logsitcs có tính không lưu trữ được: Dịch vụ logistics không thể được lưu trữ để bán hoặc sử dụng sau này.
Nói cách khác, dịch vụ logistics không thể được kiểm kê. Nếu như các sản phẩm, hàng hóa hữu hình có thể lưu giữ, bảo quản được thì sản phẩm dịch vụ lại không thể cất giữ được trong kho. Nó chính là một phần đệm điều chỉnh về sự thay đổi nhu cầu về thị trường. Dịch vụ logistics có tính không đồng đều: Nó đề cập đến thực tế là chất lượng dịch vụ có thể thay đổi rất nhiều, tùy thuộc vào người cung cấp chúng và khi nào, ở đâu và như thế nào.
Do tính chất thâm dụng lao động của dịch vụ, có rất nhiều sự khác biệt về chất lượng dịch vụ được cung cấp bởi các nhà cung cấp khác nhau, hoặc thậm chí bởi cùng một nhà cung cấp tại các thời điểm khác nhau. Ngoài mang những đặc điểm chung của các loại hình dịch vụ thì dịch vụ logistics mang những đặc điểm riêng khác: Dịch vụ logistics là sự phát triển cao hơn của dịch vụ nói chung. Dịch vụ logistics bao gồm các hoạt động quản lý và vận chuyển hàng hóa từ điểm xuất phát đến điểm đích. Trong khi dịch vụ nói chung có thể chỉ tập trung vào việc cung cấp một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể, dịch vụ logistics đảm bảo rằng hàng hóa được vận chuyển một cách hiệu quả và đúng thời gian.
Nó cung cấp các giải pháp và quy trình quản lý toàn diện để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, tối ưu hóa hoạt động kinh doanh, tăng cường sự liên kết và hiệu quả của chuỗi cung ứng hàng hóa, đồng thời thu hút vốn đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển. Sự phát triển của dịch vụ logistics cũng góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng cường sự cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Dịch vụ logistics là dịch vụ bổ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do thương nhân thực hiện để hưởng thủ lao. Dịch vụ logistics có vai trò quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Dịch vụ logistics có thể hỗ trợ toàn bộ các khâu trong hoạt động của doanh nghiệp, từ chuẩn bị nguyên vật liệu, sản xuất đến khi sản phẩm được đưa ra khỏi doanh nghiệp đến tay người tiêu dùng. Các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics nhằm mục đích đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng nhanh chóng, hạn chế tối đa rủi ro và phải trả thù lao. Tuy nhiên mức phí này thấp hơn nhiều so với chi phí đầu tư tự thực hiện. Vai trò dịch vụ logistics đối với doanh nghiệp Thứ nhất, logistics nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phi kinh doanh, tăng cường sức cạnh tranh cho doanh nghiệp: Quan điểm marketing cho rằng, kinh 7 doanh tồn tại dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng và cho thấy ba thành phần chủ yếu của khái niệm này là sự phối hợp các nỗ lực marketing, thỏa mãn khách hàng và lợi nhuận công ty.
Logistics đóng vai trò quan trọng với các thành phần này theo cách thức khác nhau, giúp phối hợp các biến số marketing - mix, gia tăng sự hài lòng của khách hàng, làm giảm chi phí, gián tiếp làm tăng lợi nhuận trong dài hạn. Thứ hai, logistics cho phép doanh nghiệp di chuyển hàng hóa và dịch vụ hiệu quả đến khách hàng: tối ưu hóa về vị trí, các dòng hàng hóa và dịch vụ tại doanh nghiệp nhờ vào việc phân bố mạng lưới các cơ sở kinh doanh và điều kiện phục vụ phù hợp với yêu cầu vận động hàng hóa. Hơn thế nữa, các mô hình quản trị và phương án tối ưu trong dự trữ, vận chuyển, mua hàng. và hệ thống thông tin hiện đại sẽ tạo điều kiện để đưa hàng hóa đến nơi khách hàng yêu cầu nhanh nhất với chi phí thấp, cho phép doanh nghiệp thực hiện hiệu quả các hoạt động của mình.
Thứ ba, logistics hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh, là một nguồn lợi tiềm tàng cho doanh nghiệp: Một hệ thống logistics hiệu quả và kinh tế được ví như một tài sản có giá trị. Nếu doanh nghiệp có thể cung cấp sản phẩm cho khách hàng một cách nhanh chóng với chi phí thấp thì có thể thu được lợi thế về thị phần so với đối thủ cạnh tranh. Điều này giúp cho việc bán hàng ở mức chi phí thấp hơn nhờ vào hệ thống logistics hiệu quả hoặc cung cấp dịch vụ khách hàng với trình độ cao hơn. Mặc dù không tổ chức nào chỉ ra phần vốn quý này trong bảng cân đối tài sản nhưng cần phải thừa nhận rằng đây là phần tài sản vô hình giống như bản quyền, phát minh, sáng chế, thương hiệu.
Với vai trò quan trọng của mình, dịch vụ logistics đóng góp vào sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, đồng thời giúp tối ưu hóa hiệu suất và giảm thiểu chi phí trong quá trình vận chuyển và quản lý hàng hóa. Phân loại dịch vụ logistics Theo Điều 233 Luật Thương mại 2005, các dịch vụ logistics được chia thành ba nhóm cơ bản: (1) Các dịch vụ logistics chủ yếu, bao gồm: Dịch vụ bốc xếp, dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, dịch vụ đại lý vận tải, dịch vụ bổ trợ như tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan, xử lý lại hàng hóa bị trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container. (2) Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải gồm: Dịch vụ vận tải hàng hải, vận tải thủy nội địa, vận tải hàng không, vận tải đường sắt, vận tải đường bộ, vận tải đường ống.