phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài đƣợc kết cấu thành ba chƣơng. Cơ sở lý luận về giải pháp nâng cao chất lƣợng dạy học cho học sinh yếu kém. Khảo sát thực trạng chất lƣợng dạy học, học sinh yếu kém môn Hóa học. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lƣợng dạy học cho học sinh yếu kém môn Hóa học tại trƣờng THPT huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
5 NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG DẠY HỌC CHO HỌC SINH YẾU KÉM 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở trong và ngoài nƣớc. Vấn đề học sinh yếu kém hiện nay luôn là vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Để giúp học sinh yếu kém vƣơn lên trong học tập “một nhà thì không đủ” mà cần phải có sự chung tay của nhà trƣờng - gia đình - xã hội.
Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở trên thế giới Trong lịch sử giáo dục thế giới việc nghiên cứu, tìm tòi các phƣơng pháp dạy học hiệu quả đã đƣợc rất nhiều nhà sƣ phạm, nhà giáo dục quan tâm.Từ cuối thế kỷ XIV, vấn đề hoạt động dạy học đƣợc nhiều nhà giáo dục quan tâm, nổi bật nhất trong thời kỳ đó là: J. Cômenki (1592 - 1670), ngƣời Tiệp Khắc đƣợc coi là "ông tổ của nền giáo dục cận đại", là ngƣời đặt nền móng cho giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng, ông đã đƣa ra quan điểm giáo dục phải thích ứng với tự nhiên. Theo ông, quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện tƣợng do học sinh tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng uy quyền bắt buộc, gò ép học sinh chấp nhận bất kì một điều gì và ông đã nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị rất lớn đó là: nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy tính tự giác tích cực của học sinh nguyên tắc hệ thống và liên tục; nguyên tắc củng cố kiến thức; nguyên tắc giảng dạy theo khả năng tiếp thu của học sinh (vừa sức); dạy học phải thiết thực; dạy học theo nguyên tắc cá biệt. Theo 6 Cômenki thì sự phù hơp với qui luật của tự nhiên ở trẻ em thể hiện ở các giai đoạn phát triển theo lứa tuổi, ứng với mỗi thời kì, trẻ em có những đặc điểm phát triển riêng về sinh lí và tâm lí, vì thế cần có nội dung, phƣơng pháp giáo dục cho từng lứa tuổi ấy.
Bàn về phƣơng tiện trí dục ông nhấn mạnh đến đồ dùng dạy và ngyên vật liệu dạy học cho trẻ. Trong lí luận dạy học mẫu giáo J. Cômenki nêu lên một hệ thống các nguyên tắc có ý nghĩa nhƣ dạy học phù hợp với tự nhiên, dạy học phải mang vừa sức, mang tính hệ thống, liên tục, thực tiễn, bền vững và phát triển. Chẳng hạn khi nói về nguyên tắc dạy học mang tính phát triển, ông đã chỉ ra" dạy học giúp trẻ tích lũy kiến thức, phát triển năng lực của trẻ và đặc biệt chuẩn bị cho trẻ đến hoạt động tự lập sau này".
Trên nền tảng sƣ phạm của J.A Comenki, các tài liệu lý luận dạy học đều đƣa ra các nguyên tắc dạy học không thể thiếu tính vừa sức và tính trực quan đối với học sinh. Hai nguyên tắc này đặc bịêt quan trọng đối với học sinh phổ thông và nhất là các HS yếu kém hoặc HS cá biệt [28]. Sau đệ nhị thế chiến, Nhật Bản tái thiết đất nƣớc bằng tinh thần phát huy cao độ nội lực của toàn dân tộc thông qua chính sách phát triển giáo dục rất sớm và phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nƣớc. Nhờ vậy, sau bại trận trong chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật đứng lên và trở thành cƣờng quốc về kinh tế thế giới.
Trong tác phẩm: “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” của nhà giáo Nhật lỗi lạc Tsunesaburo Makiguchi với những tƣ tƣởng và đề nghị nâng chất lƣợng giáo dục đào tạo học sinh và sinh viên. Nƣớc Mỹ trở thành một cƣờng quốc về kinh tế quân sự trên thế giới là nhờ có nền giáo dục hiện đại. Nền giáo dục Mỹ đã góp phần đáng kể cung cấp cho xã hội Mỹ một đội ngũ đông đảo những trí thức, những nhà khoa học cũng nhƣ hàng triệu công nhân kỹ thuật lành nghề, góp phần phát triển kinh tế Mỹ. Trong thông điệp gửi quốc dân ngày 4/2/1997, tổng thống Mỹ Bill Clinton kêu gọi hành động để cho nƣớc Mỹ bƣớc vào thế kỷ XXI, hành động để duy trì nền kinh tế, hành động để tăng cƣờng nền giáo dục, công nghệ khoa học.Montessori 7 (1870- 1952) là nhà giáo dục ngƣời Ý, bà quan tâm đến vấn đề tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đứa trẻ phát triển thông qua trò chơi, trẻ đƣợc tự do lựa chọn các vật liệu và tự do làm điều chúng thích trong mội trƣờng không gian vật chất hấp dẫn, thú vị do giáo viên tạo ra.
Đây là nền tảng của nguyên tắc tích cực trong dạy học. Oviđ Đơcroli, nhà giáo dục lớn nhất Châu Âu của nửa đầu thế kỉ XX (ngƣời Bỉ), ông là ngƣời khởi xƣớng quan điểm dạy trẻ học theo chủ đề, chủ điểm, lấy trẻ làm trung tâm của mọi quá trình sƣ phạm, dạy học và giáo dục chạy theo hứng thú riêng của trẻ. Các nhà giáo dục ở các nƣớc phƣơng Tây ( Anh, Pháp, Thụy Điển, Mĩ,.) rất quan tâm đến sự phát triển nhận thức của trẻ nhƣng không nhấn mạnh vào học các kĩ năng đọc, viết, tính toán và luôn tạo điều kiện kích thích tính tích cực và óc sáng tạo của trẻ trong các hoạt động của chúng ở trƣờng mầm non và cho rằng trẻ học tốt nhất là thông qua chơi, trẻ đƣợc chơi, đƣợc học trong một môi trƣờng hoạt động đa dạng, phong phú và hấp dẫn dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên [ 28 ]. Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở trong nƣớc Tại Việt Nam biện pháp bồi dƣỡng hoặc hạn chế học sinh yếu, để nâng cao chất lƣợng dạy học môn Hóa học cho học sinh ở trƣờng THPT đã có nhiều khóa luận tốt nghiệp, luận văn, luận án quan tâm, chọn làm đề tài nghiên cứu.
Sau đây là một số công trình của các tác giả nghiên cứu trong nƣớc: Tác giả Nguyễn Anh Duy (2011), Luận văn thạc sĩ“ Những biện pháp bồi dưỡng học sinh yếu môn hóa học lớp 10 THPT”. Đề tài này, tác giả đã phân tích rỏ ràng: cơ sở lý luận, cơ sở thực tiển, cơ sở khoa học của việc xây dựng 8 nhóm biện pháp và tiến hành thực nghiệm. Đƣợc chia thành 6 cặp thực nghiệm và đối chứng: tại các Trƣờng THPT trên địa bàn Thành phố HCM. Tác giả đã đƣa ra 8 biện pháp bồi dưỡng học sinh yếu môn hóa học lớp 10 THPT nhằm mục đích nâng cao chất lƣợng học sinh yếu.
Nhƣng trong luận văn này tác giả không dạy thực nghiệm chỉ lấy số liệu thực nghiệm từ 5 giáo viên khác, đối tƣợng nghiên cứu chỉ là học sinh 8 yếu và học sinh thuộc các trƣờng lớn trên địa bàn Thành phố HCM [ 7 ]. Tác giả Phan Thị Lan Phƣơng (2011), Luận văn thạc sĩ “ Một số biện pháp bồi dưỡng học sinh yếu môn hóa học lớp 11 ban cơ bản THPT”. Đề tài này, tác giả đã phân tích rất tốt: cơ sở lý luận và thực tiển, khảo sát thực trạng dẫn đến học sinh yếu, từ đó tác giả đã đƣa ra 12 biện pháp để bồi dƣỡng học sinh yếu, đồng thời tiến hành thực nghiệm, tác giả chỉ cho dạy thực nghiệm chƣơng 8, 9 sách giáo khoa lớp 11 cơ bản và không trực tiếp dạy thực nghiệm. Chọn 5 cặp lớp đều là lớp 11, có tỷ lệ học sinh yếu cao trong trƣờng, ở 4 giáo viên dạy thực nghiệm, tác giả lựa chọn hai lớp có trình độ tƣơng đƣơng nhau, một lớp dạy theo giáo án thực nghiệm và một lớp dạy theo giáo án truyền thống.
Trong luận văn này tác giả cũng không trực tiếp giảng dạy, đối tƣợng nghiên cứu chỉ là học sinh yếu ở lớp 11 và các trƣờng THPT của Thành phố lớn [ 16 ]. Tác giả Nguyễn Thị Thùy Trang ( 2003 ), Khóa luận tốt nghiệp “ Một số biện pháp giúp học sinh trung bình, yếu học tốt môn Hóa học lớp l1 - chương trình cơ bản”. Đề tài này, tác giả đã phân tích tốt: cơ sở lý luận, cơ sở thực tiển, khảo sát thực trạng học sinh trung bình yếu và đƣa ra 10 giải pháp và thiết kế giáo án, tiến hành thực nghiệm: chọn 4 lớp 11, bao gồm hai lớp đối chứng và hai lớp thực nghiệm. Tác giả trực tiếp dạy 2 lớp và nhờ giáo viên khác dạy 2 lớp.
Điểm mới trong khóa luận này ngƣời nghiên cứu có trực tiếp giảng dạy, nhƣng đề tài này cũng tập chung ở đối tƣợng học sinh trung bình yếu và các trƣờng THPT trên địa bàn thành phố HCM. Ngƣời nghiên cứu đã tìm hiểu đề tài của các tác giả đã đƣa ra rất nhiều biện pháp phong phú, đa dạng để bồi dƣỡng học sinh yếu, học sinh trung bình, nâng cao hiệu quả dạy học. Tuy nhiên, với mỗi đối tƣợng học sinh khác nhau thì đòi hỏi cần có những biện phƣơng pháp dạy học khác nhau, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh để đạt hiệu quả giảng dạy cao nhất. Nhƣng nhìn một cách tổng quát về các 9 đề tài ở những năm đổ về trƣớc thì hƣớng nghiên cứu về phƣơng pháp dạy học dành cho từng đối tƣợng học sinh yếu kém là chƣa nhiều và nếu có thì mới chỉ là tập trung cho việc nâng cao chất lƣợng giảng dạy với đối tƣợng học sinh khá giỏi.
Trong các luận văn hoặc khóa luận của các tác giả trƣớc thì chƣa có tác giả nào đƣa ra: giải pháp nâng cao chất lƣợng dạy học cho học sinh yếu kém môn Hóa học tại trƣờng THPT huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang, đây là trƣờng thuộc huyện vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Ra xa khỏi phạm vi huyện Giồng Riềng, cuốn sách “Tổ chức dạy học cho học sinh dân tộc miền núi” của TS. Phạm Hồng Quang cũng có đôi nét liên quan đến đề tài, bởi vì kết quả học tập của HS yếu kém tại Trƣờng THPT Giồng Riềng, đây là một trƣờng thuộc huyện vùng sâu, vùng xa, trên địa bàn tỉnh Kiên Giang và HS dân tộc miền núi gần gần nhau và một số nguyên nhân dẫn đến kết quả học tập yếu kém của hai đối tƣợng này có đôi nét giống nhau.