Chương 1: Tổng quan về công tác đấu thầu xây lắp. Chương 2: Cơ sở lý luận về công tác đấu thầu trong đầu tư xây dựng cơ bản. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác đấu thấu xây lắp tại Ban quản lý dự án nhà máy thủy điện Sơn La. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU XÂY LẮP 1.1 Khái quát chung về công tác đấu thầu xây lắp 1.1 Công tác đấu thầu xây lắp Khái niệm đấu thầu xuất hiện và được sử dụng như là một “quy luật” trong nền kinh tế thị trường.
Mục tiêu chính của đấu thầu giúp cho Chính phủ các nước quản lý được nguồn vốn một cách có hiệu quả, hạn chế thất thoát, lãng phí, tham nhũng trong công tác đầu tư mua sắm. Sử dụng tốt quy luật này sẽ tạo cho nền kinh tế phát triển lành mạnh và mang lại hiệu quả cho kinh tế đất nước nói chung và cho các doanh nghiệp. Bước vào kinh tế thị trường, đấu thầu là một khái niệm mới mẻ đối với nước ta, nhưng nó lại là một biện pháp hữu hiệu trong quản lý kinh tế. Hiện chưa có một biện pháp nào tốt hơn để có thể thay thế.
Hiểu rõ vị trí,tầm quan trọng của đấu thầu, khi bước vào nền kinh tế thị trường nhà nước đã ban hành các văn bản pháp quy để điều hành quản lý hoạt động này. Ở Việt Nam quy chế đấu thầu bắt đầu được nhà nước ban hành kèm theo nghị định số 43/CP ngày 16 tháng 7 năm 1996 của Chính Phủ nhằm thống nhất quản lý hoạt động đấu thầu trong cả nước, đảm bảo tính đúng đắn, khách quan, công bằng và có tính cách tranh trong đấu thầu, để thực hiện các dự án đầu tư trên lãnh thổ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong quá trình thực hiện công tác đầu thầu, Luật đấu thầu đã qua 4 lần sửa đổi và bổ sung để ngày càng trở nên hoàn thiện và tiến gần để phù hợp với Luật pháp quốc tế. Tại khoản 12, điều 14 của Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 của Quốc hội cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuật ngữ “Đấu thầu” được định nghĩa như sau: Đấu thầu là một quá trình lựa chọn được một nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.
Căn cứ vào đặc điểm của từng sản phẩm, hàng hóa dịch vụ mua bán có thể chia đấu thầu làm 5 loại hình: đấu thầu tư vấn, đấu thầu xây lắp, đấu thầu mua sắm hàng hóa, 4 đấu thầu dịch vụ phi tư vấn, đấu thầu lựa chọn đối tác thực hiện dự án. Trong phạm vi của bài luận văn tác giả chỉ đi vào cụ thể loại hình đấu thầu xây lắp. Từ định nghĩa trong Luật đấu thầu ta có thể đưa ra nội dung khái quát về đấu thầu xây lắp là. Đấu thầu xây lắp là quá trình lựa chọn nhà thầu xây lắp.
Mục đích là để ký kết hợp đồng. Đấu thầu cần đảm bảo nguyên tắc cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế. Xây lắp được hiểu là gồm những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt công trình, hạng mục công trình. Các nhà thầu xây lắp tham gia vào hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng tương ứng với loại, cấp công trình xây dựng.
Năng lực hoạt động xây dựng của nhà thầu xây lắp được thể hiện ở chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng trong đó có xác nhận hạng của nhà thầu. Nhà thầu xây lắp được phân thành 3 hạng I, hạng II, hạng III do cơ quan nhà nước có thẩm quyền về xây dựng đánh giá, cấp chứng chỉ năng lực. Bộ Xây dựng cấp chứng chỉ năng lực hạng I; Sở Xây dựng cấp chứng chỉ năng lực hạng II, hạng III. Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng của nhà thầu xây lắp có hiệu lực tối đa trong thời hạn 5 năm.
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày có thay đổi, hết hiệu lực thì phải làm thủ tục cấp lại. [1] Yêu cầu Chủ đầu tư Nhà thầu Năng lực kinh nghiệm, giải pháp kỹ thuật Đánh giá Lựa chọn nhà thầu Ký kết hợp đồng Sơ đồ 1. 1 Khái quát LCNT xây lắp 5 1.2 Đặc điểm của đấu thầu xây lắp Bản chất của đấu thầu là việc bỏ tiền để nhận được một sản phẩm nào đó theo ý muốn của người mua. Tùy thuộc vào nguồn tiền sử dụng, vào loại sản phẩm mua bán mà việc mua sắm có những đặc điểm khác nhau.
Với việc sử dụng tiền của nhà nước vào công tác xây dựng thì hoạt động đấu thầu những đặc điểm chính như sau: Đấu thầu xây dựng là một quá trình lựa chọn nhà thầu xây dựng để ký kết và thực hiện được một hợp đồng. Sản phẩm xây dựng chưa có sẵn mà được hình thành trong tương lai [2] người mua là CĐT chỉ có thể kì vọng vào chất lượng của sản phẩm thông qua việc xem xét, đánh giá bằng những tiêu chí đánh năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu, có giải pháp kỹ thuật phù hợp phù hợp với biện pháp thi công đảm bảo đúng tiến độ và đảm bảo vệ sinh môi trường, đảm bảo an toàn. Sản phẩm xây dựng thường có quy mô lớn, thời gian thi công kéo dài, chịu tác động của nhiều yếu tố như tự nhiên, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. [2] Với mục đích là ký kết và thực hiện hợp đồng một hợp đồng dân sự cam kết giữa hai bên mua và bên bán để thực hiện được các nội dung công việc của một dự án xây dựng.
Mục đích của bên mời thầu là có được sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng và chi phí thấp nhất, thời gian đúng tiến độ; mục đích của nhà thầu là giành được quyền cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể. Các đối tượng trực tiếp tham gia vào trong hoạt động đấu thầu xây lắp bao gồm: [3] Bên mua: Chính là nhà nước mà đại diện là các cơ quan của nhà nước theo từng lĩnh vực, từng ngành kinh tế, bao gồm: Thứ nhất là người có thẩm quyền quyết định phê duyệt dự án; Thứ hai là chủ đầu tư là cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ hoặc sử dụng tiền của nhà nước (Doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức vay tiền của nhà nước hoặc do nhà nước bảo lãnh cho khoản vay) thực hiện đầu tư, đấu thầu; Thứ ba là bên mời thầu là tổ chức được chủ đầu tư giao nhiệm vụ (trường hợp thuộc chủ đầu tư) hoặc thuê (thông qua hợp đồng) tổ chức đấu thầu; Thứ tư là tổ chuyên gia đấu thầu bao gồm 6 các cá nhân được chủ đầu tư quyết định thành lập hoặc thuê tuyển để thực hiện nhiệm vụ đánh giá HSDT, lựa chọn nhà thầu phù hợp với yêu cầu căn cứ HSMT và TCĐG. Bên bán: là nhà thầu xây lắp có đủ tư cách pháp nhân tham gia đấu thầu các gói thầu phù hợp với điều kiện năng lực và kinh nghiệm của mình để dành được các hợp đồng trên cơ sở cạnh tranh hoặc thông qua các hình thức lựa chọn khác theo quy định. Các đối tượng tham gia gián tiếp vào hoạt động đấu thầu: [3] Ngoài bên mua và bên bán là các đối tượng tham gia trực tiếp hoạt động đấu thầu còn có một bộ phận thứ ba gián tiếp tham gia vào hoạt động đấu thầu, bao gồm: Cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát; Cơ quan, công ty kiểm toán độc lập; Công luận, các cơ quan báo chí; Sự tham gia của cộng đồng với vai trò giám sát.
Một số thuật ngữ cơ bản thường dùng trong lĩnh vực đấu thầu: [4] Bảo đảm dự thầu: là việc nhà thầu thực hiện một trong những biện pháp đặt cọc, ký quỹ hoặc nộp thư bảo lãnh của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam để bảo đảm thời gian xác định theo yêu cầu của HSMT. Bảo đảm thực hiện hợp đồng: là việc nhà thầu thực hiện một trong các biện pháp đặt cọc, ký quỹ hoặc nộp thư bảo lãnh của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam để bảo đảm trách nhiệm thực hiện hợp đồng của nhà thầu. Giá gói thầu: là giá trị của gói thầu được phê duyệt trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu. Giá gói thầu xây lắp được xác định trên cơ sở tổng mức đầu tư hoặc dự toán (nếu có).
Giá gói thầu được tính đúng, tính đủ toàn bộ chi phí để thực hiện gói thầu, kể cả chi phí dự phòng, phí, lệ phí và thuế. Giá dự thầu: là giá do nhà thầu ghi trong đơn giá dự thầu, báo giá, bao gồm toàn bộ các chi phí để thực hiện gói thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu. Giá đánh giá: là giá dự thầu sau khi đã được sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, trừ đi giá trị giảm giá (nếu có), cộng với các yếu tố để quy đổi trên 7 cùng một mặt bằng cho cả vòng đời sử dụng của hàng hóa, công trình. Giá đánh giá dùng để xếp hạng hồ sơ dự thầu đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp và gói thầu hỗn hợp áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế.
Giá đề nghị trúng thầu: là giá dự thầu của nhà thầu được đề nghị trúng thầu sau khi đã được sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, trư đi giá trị giảm giá (nếu có). Giá trúng thầu: là giá được ghi trong quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu. Giá hợp đồng: là giá trị ghi trong văn bản hợp đồng làm căn cứ để tạm ứng, thanh toán, thanh lý và quyết toán hợp đồng. Gói thầu xây lắp có qui mô nhỏ: là gói thầu không quá 20 tỷ đồng.