phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Đề tài được kết cấu thành ba phần được sắp xếp có quan hệ mật thiết với nhau đi từ cơ sở lý luận đến cơ sở thực tiễn và giải pháp: Phần 1: Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng trong giáo dục đào tạo. Phần 2: Đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo ở trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên. Phần 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên. 6 Phần 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRONG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO 1.
Cơ sở lý luận về chất lượng và quản lý chất lượng 1. Các quan niệm cơ bản về Chất lượng và quản lý chất lượng 1. Quan niệm về chất lượng: Chất lượng là một khái niệm quá quen thuộc với loài người ngay từ những thời cổ đại, tuy nhiên chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi. Tùy theo đối tượng sử dụng, từ “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau.
Người sản xuất coi chất lượng là điều phải làm để được khách hàng chấp nhận. Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh kèm theo chi phí, giá cả. Con người sống trên nhiều vùng lãnh thổ khác nhau, có nền văn hóa, phát triển khoa học – kỹ thuật khác nhau thì cách hiểu về chất lượng cũng khác nhau. Nói như vậy không phải chất lượng là một khái niệm quá trừu tượng đến mức mà người ta không thể đi đến một cách diễn giải tương đối thống nhất, mặc dù sẽ còn thay đổi.
Sau đây là một số khái niệm về chất lượng: - Theo Kooru Iskikawa: “Chất lượng là khả năng thỏa mãn nhu cầu của thị trường với chi phí thấp nhất”. Juran : “Chất lượng bao gồm những đặc điểm của sản phẩm phù hợp với các nhu cầu của khách hàng và tạo ra sự thỏa mãn đối với khách hàng” - Theo Philip B.Grosby: “Chất lượng là sự phù hợp với những yêu cầu hay đặc tính nhất định” - Khái niệm về chất lượng được nhiều quốc gia chấp nhận nhất là của Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá được nêu trong ISO 9000:2000 như sau: “Chất lượng là toàn bộ các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn các nhu cầu đã được công bố hay còn tiềm ẩn”. Đây là một định nghĩa khá hợp lý, hoàn chỉnh và thông dụng nhất hiện nay. Nó phát huy được những mặt tích cực và khắc phục được những hạn chế của các quan niệm trước đó, ở đây chất lượng được xem xát một cách toàn diện và rông rãi hơn.
7 Từ các định nghĩa trên ta có thể xem xét một số đặc tính của chất lượng như sau: - Chất lượng là một phạm trù vấn đề có ý nghĩa về mặt kinh tế, kỹ thuật, văn hóa xã hội. Chính vì vậy khi giải quyết vấn đề chất lượng cần phải đảm bảo lợi ích cho cả người tiêu dùng, doanh nghiệp và xã hội về ba lĩnh vực trên. - Chất lượng được đo bằng sự thỏa mãn của khách hàng. Khi doanh nghiệp cung ứng cho khách hàng một sản phẩm, họ được hưởng lợi ích từ việc sử dụng chúng, nhưng họ phải bỏ ra chi phí.
Chất lượng sản phẩm là vấn đề tổng hợp, là kết quả của một quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng và cả sau khi tiêu dùng nữa (khâu thanh lý). Do đó, có thể nói nó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, điều kiện liên quan trong suốt chu kỳ sống của nó.Quan niệm về quản lý chất lượng a. Khái niệm về quản lý chất lượng: Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả do sự tác động của hàng loạt nhân tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các nhân tố đó.
- Theo quan điểm của nhà quản lý người Anh AG Robertson: “Quản lý chất lượng sản phẩm là ứng dụng các biện pháp, thủ tục, kiến thức kinh tế, kỹ thuật đảm bảo cho sản phẩm đang hoặc sẽ được sản xuất phù hợp với thiết kế, các yêu cầu trong hoạt động kinh tế bằng con đường hiệu quả nhất, kinh tế nhất”. - Theo quan điểm của chuyên gia chất lượng Nhật Bản K.Ishikawa: “Quản lý chất lượng sản phẩm có ý nghĩa là nghiên cứu, thiết kế, triển khai sản xuất, bảo dưỡng một sản phẩm có chất lượng, sản phẩm phải kinh tế nhất, có ích nhất và bao giờ cũng có thoả mãn nhu cầu của khách hàng”. Một khái niệm quản lý chất lượng đầy đủ phải trả lời 4 câu hỏi sau: + Mục tiêu quản lý chất lượng là đạt cái gì? + Phạm vi và đối tượng quản lý chất lượng? + Chức năng, nhiệm vụ quản lý chất lượng? 8 + Thực hiện quản lý chất lượng bằng phương pháp, biện pháp, phương tiện nào? - Theo tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá cho rằng: “Quản lý chất lượng là tập hợp các hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục đích chất lượng và thực hiện chúng bằng những phương tiện như lập kế hoạch, điều chỉnh chất lượng, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng”. Như vậy, Quản lý chất lượng có vai trò quan trọng trong việc hoạch định chiến lược dài hạn và ngắn hạn, làm tốt công tác quản lý chất lượng là tiền đề và điều kiện để quản lý các hoạt động nhịp nhàng, không chồng chéo, tránh lãng phí về nguồn vốn, nhân lực, Nguyên vật liệu.nhờ vậy chất lượng sản phẩm được đảm bảo và nâng cao.
Các mô hình (phương pháp) quản lý chất lượng Do có nhiều mục tiêu khác nhau nên có nhiều quan niệm khác nhau về QLCL sản phẩm. Từ đó có nhiều phương pháp QLCL được hình thành. - Kiểm tra chất lượng Là kiểm tra chất lượng sản phẩm và các chi tiết, bộ phận sau khi được sản xuất so với sản phẩm đã được thiết kế ban đầu hoặc theo nhu cầu khách hàng nhằm ngăn chặn các sản phẩm hư hỏng, giảm dần số lỗi trong một sản phẩm và xếp loại sản phẩm theo các mức độ khác nhau. - Kiểm soát chất lượng (QC – Quality Control) và kiểm soát chất lượng toàn diện (TQC – Total Quality Control) Kiểm soát chất lượng là Các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng.
Kiểm soát chất lượng toàn diện là một hệ thống có hiệu quả để phối hợp các nỗ lực phát triển, duy trì và cải tiến chất lượng của các nhóm khác nhau vào trong một tổ chức sao cho các hoạt động marketing, kỹ thuật, sản xuất và dịch vụ có thể tiến hành một cách kinh tế nhất, cho phép thỏa mãn hoàn toàn khách hàng. Kiểm soát chất lượng toàn diện huy động nỗ lực của mọi đơn vị trong công ty vào các 9 quá trình có liên quan đến duy trì và cải tiến chất lượng. Điều này sẽ giúp tiết kiệm tối đa trong sản xuất, dịch vụ, đồng thời thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. - Quản lý chất lượng toàn diện (TQM – Total Quality Management) TQM là phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên, nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự thỏa mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành viên của công ty đó và của xã hội.
Mục tiêu của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ở mức tốt nhất cho phép. Đặc điểm nổi bật của TQM so với các phương pháp QLCL khác trước đây là nó cung cấp một hệ thống toàn diện cho công tác quản lý và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia của mọi bộ phận, mọi cá nhân để đạt được mục tiêu chất lượng đã đặt ra. - Hệ thống quản lý chất lượng theo mô hình ISO 9000 Bộ ISO 9000 là tập hợp, tổng kết và chuẩn hóa định hướng những thành tựu và kinh nghiệm QLCL của nhiều nước, giúp cho việc quản lý các doanh nghiệp, quản lý các định chế công ích một cách có hiệu quả hơn.Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 có thể áp dụng vào bất kỳ tổ chức nào không phân biệt lai lịch (các trường Đại học, Cao đẳng; Bệnh viện, Khối hành chính công, Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, Doanh nghiệp dịch vụ…) 1. Chất lượng đào tạo và quản lý chất lượng đào tạo 1.
Chất lượng đào tạo a. Khái niệm về chất lượng đào tạo: Hiện nay, chất lượng đang được quan tâm nhiều trên thế giới. Mọi người bàn luận về chất lượng trong mọi lĩnh vực của xã hội: trong các ngành công nghiệp, dịch vụ,. và trong lĩnh vực giáo dục.
Chất lượng đào tạo luôn là vấn đề quan trọng nhất của tất cả các trường đại học, cao đẳng. Do đó, việc nâng cao chất lượng đào tạo là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ trường đại học, cao đẳng nào. Quan điểm nguồn lực ở phương tây cho rằng chất lượng đào tạo phụ thuộc vào đầu vào của hệ thống đào tạo. Khi các yêu tố đầu vào có chất lượng như: 10 Giáo viên giỏi, cán bộ quản lý giỏi, cơ sở vật chất đầy đủ, học sinh giỏi.
thì chất lượng đào tạo sẽ được nâng cao.Mặc dù có tầm quan trọng như vậy nhưng chất lượng vẫn là khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường và cách hiểu của người này cũng khác so với người kia. Do đó, khái niệm chất lượng đào tạo Cao đẳng, đại học đã được đưa ra từ nhiều góc độ khác nhau : + Khi chính phủ xem xét chất lượng, trước hết họ nhìn vào tỉ lệ đậu/rớt, những người bỏ học và thời gian học tập. Chất lượng dưới con mắt của chính phủ có thể miêu tả như “càng nhiều sinh viên kết thúc chương trình theo đúng hạn quy định, với chất lượng tiêu chuẩn quốc tế, và với chi phí thấp nhất” + Những người sử dụng, khi nói về chất lượng, sẽ nói về kiến thức, kỹ năng và đạo đức trong suốt quá trình học tập; “sản phẩm” bị thử thách chính là những cử nhân, kỹ sư. + Đội ngũ giảng viên sẽ định nghĩa chất lượng như là “đào tạo hàn lâm tốt trên cơ sở chuyển giao kiến thức tốt, môi trường học tập tốt và quan hệ tốt giữa giảng dạy và nghiên cứu”.
+ Đối với sinh viên, chất lượng liên hệ đến việc đóng góp vào sự phát triển cá nhân và việc chuẩn bị cho một vị trí xã hội. Đào tạo phải kết nối với mối quan tâm cá nhân của người sinh viên.