Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Bắc Ninh là một trong những trung tâm kinh tế công nghiệp năng động hàng đầu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Tính đến năm 2015, toàn tỉnh đã quy hoạch và phát triển 15 khu công nghiệp tập trung, 28 cụm công nghiệp cùng hàng trăm làng nghề truyền thống. Quy mô nền kinh tế ghi nhận bước phát triển vượt bậc với tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đứng thứ 6 cả nước, gấp 60 lần so với thời điểm tái lập tỉnh năm 1997; thu ngân sách đạt 15.174 tỷ đồng và kim ngạch xuất khẩu đạt 23,4 tỷ USD, chiếm vị trí thứ 2 toàn quốc. Tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đã vươn lên chiếm 94,7% trong cơ cấu kinh tế. Mặc dù lực lượng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế đạt 684.510 người, chiếm 56% tổng dân số, chất lượng nguồn nhân lực lại chưa tương xứng với tốc độ phát triển.

Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang tạo ra nghịch lý lớn trên thị trường lao động địa phương: tình trạng dư thừa lao động phổ thông chưa qua đào tạo diễn ra song song với sự khan hiếm trầm trọng đội ngũ công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Mạng lưới 49 cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung đào tạo sơ cấp ngắn hạn, chưa đáp ứng được tiêu chuẩn khắt khe từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng chất lượng đào tạo tại các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2013-2015, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện cho giai đoạn 2016-2020. Mục tiêu nghiên cứu hướng đến việc nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 26% lên mức 50% theo chiến lược phát triển nhân lực quốc gia, đáp ứng trực tiếp nhu cầu các ngành công nghiệp mũi nhọn như điện tử viễn thông, cơ khí chính xác và công nghệ vật liệu mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý chất lượng toàn diện (TQM) và bộ tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2008 nhằm tiếp cận chất lượng đào tạo nghề như một hệ thống dịch vụ phức hợp đa chiều. Đồng thời, mô hình đánh giá giáo dục CIPP (Bối cảnh - Đầu vào - Quá trình - Đầu ra) được sử dụng để phân tích toàn diện chu trình vận hành tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Khung lý thuyết của luận văn tập trung làm sáng tỏ bốn khái niệm cốt lõi:

Thứ nhất, đào tạo nghề được xác định là quá trình hoạt động có tổ chức nhằm trang bị hệ thống tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp chuẩn mực, giúp người học hình thành năng lực thực hành để tham gia thị trường lao động. Thứ hai, đào tạo lại nghề là hình thức tái cấu trúc kiến thức và kỹ năng cho lực lượng lao động hiện hữu trước yêu cầu đổi mới công nghệ của các nhà máy sản xuất. Thứ ba, bồi dưỡng nâng cao tay nghề là chu kỳ đào tạo định kỳ nhằm cập nhật các kỹ thuật tiên tiến và nâng bậc thợ chuyên môn. Thứ tư, giá trị gia tăng trong đào tạo là mức độ vượt trội về năng lực thực hành nghề, tư duy kỹ thuật và tác phong công nghiệp mà người học tích lũy được so với thời điểm trước khi tham gia khóa học.

Chất lượng đào tạo nghề được đo lường thông qua năm tiêu chí trụ cột: sự gia tăng năng lực thực tế của học viên, độ chuẩn hóa không sai sót theo chuẩn đầu ra công bố, mức độ bám sát mục tiêu chiến lược của nhà trường, tính tương xứng giữa hiệu quả đào tạo với chi phí đầu tư, và sự thỏa mãn của người sử dụng lao động.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tác giả thu thập có hệ thống từ Niên giám Thống kê tỉnh Bắc Ninh, các báo cáo chuyên đề của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư giai đoạn 2013-2015. Nguồn dữ liệu sơ cấp được tạo lập thông qua việc triển khai khảo sát bằng bảng hỏi thiết kế chuẩn hóa trên cỡ mẫu gồm 200 đối tượng đại diện, bao gồm cán bộ quản trị cơ sở dạy nghề, giáo viên trực tiếp giảng dạy, học viên đang theo học và các nhà tuyển dụng tại các khu công nghiệp.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng để khảo sát ba cơ sở đào tạo tiêu biểu đại diện cho ba phân tầng giáo dục nghề nghiệp: Trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh (đơn vị có bề dày trên 40 năm đào tạo đa cấp trình độ), Trường Trung cấp nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh (đơn vị trọng điểm đào tạo kỹ thuật công nghiệp bậc trung cấp) và Trung tâm Dạy nghề thành phố Bắc Ninh (đơn vị điển hình về sơ cấp và phổ cập nghề ngắn hạn).

Tác giả lựa chọn phương pháp thống kê mô tả kết hợp phương pháp so sánh chuỗi thời gian nhằm lượng hóa các biến động về quy mô tuyển sinh, tỷ lệ tốt nghiệp và phân loại học lực qua từng năm học. Phương pháp điều tra giáo dục học được sử dụng để thẩm định tính khả thi của các nhóm giải pháp. Các chỉ tiêu phân tích then chốt được xây dựng chặt chẽ theo các quy chuẩn pháp lý: tỷ lệ học sinh quy đổi trên một giáo viên theo Thông tư số 30/2010/TT-BLĐTBXH (định mức tối đa 20:1), tỷ lệ giáo viên cơ hữu đạt chuẩn tối thiểu 70%, và định mức diện tích phòng thực hành đạt 4 đến 6 m2/chỗ học theo Tiêu chuẩn TCXD VN 60:2003 của Bộ Xây dựng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2013-2015 tại tỉnh Bắc Ninh đã ghi nhận bốn phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, có sự chuyển dịch lao động rất mạnh giữa các ngành kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã thu hút 253.779 lao động, chiếm tỷ trọng áp đảo 39,13% tổng lực lượng lao động của tỉnh; trong khi nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm xuống còn 145.859 người, tương ứng 22,49%. Mặc dù vậy, tỷ lệ lao động kỹ thuật có chứng chỉ nghề đáp ứng được các dây chuyền lắp ráp công nghệ cao chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn dưới 30%.

Thứ hai, mạng lưới đào tạo nghề của tỉnh gồm 49 cơ sở (7 trường cao đẳng nghề, 12 trường trung cấp nghề, 20 trung tâm dạy nghề và 10 cơ sở khác) đang mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu đào tạo. Quy mô đào tạo sơ cấp dưới 1 năm và dạy nghề ngắn hạn chiếm trên 75% tổng lưu lượng học viên, trong khi hệ cao đẳng và trung cấp nghề kỹ thuật chuyên sâu chỉ chiếm khoảng 25%.

Thứ ba, sự thiếu hụt nhân lực tay nghề cao diễn ra gay gắt ở các nhóm ngành kỹ thuật mũi nhọn. Các doanh nghiệp FDI hoạt động trong lĩnh vực điện tử, viễn thông và cơ khí chính xác luôn thiếu hụt kỹ thuật viên khuôn mẫu, thợ vận hành máy CNC và chuyên viên kỹ thuật vật liệu mới, khiến tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm công nghiệp hỗ trợ khó gia tăng.

Thứ tư, điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo tại các trường nghề chưa đạt chuẩn đồng bộ. Tỷ lệ giáo viên cơ hữu có kỹ năng thực hành nghề bậc cao chỉ đạt khoảng 65%, trong khi định mức diện tích phòng học thực hành tại nhiều trung tâm chỉ đạt 2,5 đến 3 m2/chỗ, thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn quy định từ 4 đến 6 m2/chỗ.

Thảo luận kết quả

Thực trạng bất cập nêu trên xuất phát từ nguyên nhân chất lượng đầu vào của học viên trường nghề còn rất thấp do công tác phân luồng sau trung học cơ sở và trung học phổ thông chưa triệt để. Đa số học sinh có học lực trung bình và yếu mới lựa chọn học nghề, gây khó khăn lớn cho việc tiếp thu kiến thức kỹ thuật phức tạp. Bên cạnh đó, nội dung chương trình đào tạo chậm cập nhật, tỷ lượng thời gian lý thuyết vẫn chiếm từ 40% đến 50%, trong khi thực hành chưa gắn liền với quy trình sản xuất thực tế tại nhà máy. Trang thiết bị thực hành tại các cơ sở dạy nghề công lập phần lớn đã lạc hậu từ một đến hai thế hệ công nghệ so với dây chuyền tự động hóa của doanh nghiệp.

Khi đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, các quốc gia thành công đều có những quyết sách tài chính mang tính đột phá. Singapore đã dành mức tăng trưởng ngân sách cho giáo dục đào tạo trung bình 30% mỗi năm trong thập niên 1980, trong khi Trung Quốc áp dụng quy định bắt buộc doanh nghiệp trích 1,5% quỹ tiền lương để phục vụ việc đào tạo tay nghề cho người lao động. Tại Việt Nam, sự thiếu vắng cơ chế ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp với cơ sở đào tạo là mắt xích yếu nhất.

Trong thực tế nghiên cứu, toàn bộ kết quả phân tích có thể được mô hình hóa qua biểu đồ cột thể hiện sự chênh lệch giữa tỷ lệ cung ứng lao động nghề và nhu cầu tuyển dụng của 15 khu công nghiệp, cùng bảng ma trận đối chiếu mức độ hài lòng của 200 đối tượng khảo sát về năng lực thực hành của học viên tốt nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch và sắp xếp lại mạng lưới 49 cơ sở dạy nghề: UBND tỉnh Bắc Ninh cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần tiến hành sáp nhập, tinh gọn các trung tâm dạy nghề hoạt động kém hiệu quả; ưu tiên tập trung vốn ngân sách đầu tư đồng bộ cho 7 trường cao đẳng nghề và 12 trường trung cấp nghề trọng điểm. Mục tiêu đến năm 2020 xây dựng thành công 2 cơ sở đào tạo nghề chất lượng cao đạt chuẩn khu vực ASEAN.

Thứ hai, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo giáo dục nghề nghiệp: Các cơ sở dạy nghề cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng định kỳ, cử 100% giáo viên dạy thực hành đi thực tế tại các doanh nghiệp FDI ít nhất 2 tháng mỗi năm. Cơ sở đào tạo phải đảm bảo tỷ lệ giáo viên cơ hữu đạt trên 70% và duy trì định mức tỷ lệ học sinh trên giáo viên dưới mức 20:1 theo đúng quy chuẩn pháp lý trước năm 2018.

Thứ ba, đổi mới chương trình đào tạo theo mô hình đào tạo kép: Ban giám hiệu các trường nghề cần chủ động ký kết thỏa thuận hợp tác với các doanh nghiệp trong 15 khu công nghiệp tập trung để cùng xây dựng chuẩn đầu ra, điều chỉnh tỷ lượng thời gian thực hành lên mức 70% tổng thời lượng khóa học. Lộ trình giai đoạn 2016-2020 phấn đấu nâng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm đúng chuyên ngành lên trên 85%.

Thứ tư, hiện đại hóa cơ sở vật chất và thiết bị thực hành: Ban chỉ đạo phát triển nhân lực tỉnh cần trích tối thiểu 5% ngân sách thu hút đầu tư hàng năm để nâng cấp xưởng thực hành công nghệ cao, trang bị máy gia công CNC, thiết bị vi điện tử và vật liệu mới; đảm bảo 100% xưởng thực hành đạt định mức diện tích từ 4 đến 6 m2/chỗ học theo Tiêu chuẩn TCXD VN 60:2003 hoàn thành trong năm 2019.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm ban giám hiệu và cán bộ quản lý tại 49 cơ sở dạy nghề: Nghiên cứu cung cấp khung 5 tiêu chí đo lường chất lượng đào tạo và công thức định mức nhân sự để nhà trường rà soát, tái cấu trúc chương trình đào tạo, nâng cao tỷ lệ học viên tốt nghiệp loại khá giỏi đáp ứng thị trường.

Cơ quan quản lý nhà nước gồm Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh: Luận văn cung cấp bức tranh số liệu chi tiết về 684.510 lao động và cơ cấu chuyển dịch ngành nghề, là cơ sở thực tiễn chuẩn xác để xây dựng đề án quy hoạch mạng lưới giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2016-2020.

Khối doanh nghiệp sử dụng lao động trong 15 khu công nghiệp và 28 cụm công nghiệp: Tài liệu hỗ trợ các nhà quản trị nhân sự tiếp cận phương thức liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng, tham gia trực tiếp vào khâu thẩm định giáo trình và tối ưu hóa chi phí đào tạo lại công nhân.

Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản lý giáo dục: Công trình mang lại giá trị tham khảo học thuật cao về phương pháp điều tra 200 mẫu khảo sát, quy trình thống kê mô tả và mô hình giải pháp phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cốt lõi khiến các doanh nghiệp FDI tại Bắc Ninh thiếu hụt lao động kỹ thuật cao là gì? Nguyên nhân chủ yếu do mạng lưới 49 cơ sở dạy nghề phần lớn chỉ đào tạo sơ cấp ngắn hạn, chương trình chậm đổi mới với tỷ lượng lý thuyết chiếm tới 50%. Thiết bị thực hành chưa bắt kịp công nghệ CNC và tự động hóa trong các khu công nghiệp, dẫn đến năng lực thực hành của học viên chưa đạt chuẩn tuyển dụng.

Quy định hiện hành về tỷ lệ học sinh trên một giáo viên dạy nghề được khống chế ở mức nào? Căn cứ theo Thông tư số 30/2010/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tỷ lệ quy đổi tối đa được xác định là 20 học sinh trên 01 giáo viên. Tỷ lệ này đảm bảo giáo viên có đủ thời gian kèm cặp, uốn nắn từng thao tác kỹ thuật cho học viên trong các giờ thực hành xưởng.

Định mức diện tích phòng học thực hành tại các cơ sở đào tạo nghề được quy định chuẩn ra sao? Theo Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXD VN 60:2003 do Bộ Xây dựng ban hành, diện tích tiêu chuẩn cho phòng học lý thuyết tối thiểu là 1,5 m2/chỗ học, và diện tích bắt buộc cho xưởng thực hành nghề dao động từ 4 đến 6 m2/chỗ thực hành nhằm đảm bảo an toàn lao động và không gian vận hành máy móc.

Mô hình liên kết đào tạo nào mang lại hiệu quả cao nhất cho các trường nghề Bắc Ninh hiện nay? Mô hình đào tạo kép kết hợp trực tiếp giữa nhà trường và doanh nghiệp khu công nghiệp là giải pháp tối ưu. Doanh nghiệp tham gia đóng góp trang thiết bị, thẩm định giáo trình và tiếp nhận học viên thực tập từ 30% đến 40% thời lượng khóa học, giúp người học làm quen ngay với tác phong công nghiệp.

Mục tiêu tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của tỉnh Bắc Ninh được xác định như thế nào? Theo chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bắc Ninh, mục tiêu trọng tâm là nâng tỷ lệ lực lượng lao động qua đào tạo nghề từ mức 26% lên tối thiểu 50% tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý chất lượng giáo dục nghề nghiệp dựa trên khung đánh giá CIPP và tiêu chuẩn ISO 9001:2008.
  • Đánh giá chân thực thực trạng chất lượng đào tạo tại 49 cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2013-2015 qua số liệu điều tra 200 mẫu khảo sát.
  • Làm rõ mâu thuẫn lớn giữa tỷ trọng 39,13% lao động công nghiệp chế biến chế tạo với tình trạng thiếu hụt trầm trọng công nhân kỹ thuật khuôn mẫu và cơ khí chính xác.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với chuẩn hóa cơ sở vật chất từ 4 đến 6 m2/chỗ thực hành và khống chế tỷ lệ 20 học sinh trên một giáo viên.
  • Xác định lộ trình triển khai cụ thể giai đoạn 2016-2020 nhằm nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh đạt mốc 50%.

Đóng góp lớn nhất của công trình nghiên cứu là cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc cho công tác quản trị đào tạo nghề tại địa phương đang trong tiến trình công nghiệp hóa nhanh. Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi UBND tỉnh Bắc Ninh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cùng cộng đồng doanh nghiệp cần bắt tay triển khai ngay cơ chế đặt hàng đào tạo nhân lực công nghiệp hỗ trợ. Các cơ sở dạy nghề cần chủ động rà soát, đổi mới toàn diện chương trình giảng dạy để cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh trong kỷ nguyên hội nhập kinh tế quốc tế.