Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đảng, đoàn thể Chương 2: Thực trạng công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đảng, đoàn thể của quận Đồ Sơn, Hải Phòng Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đảng, đoàn thể của quận Đồ Sơn, Hải Phòng 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐẢNG, ĐOÀN THỂ 1. Tổng quan về cán bộ Đảng, đoàn thể 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Cán bộ Cán bộ trong tiếng Việt là thuật ngữ chỉ những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan Nhà nước (cơ quan dân cử, cơ quan hành chính) và thuộc biên chế của một cơ quan, đơn vị và được hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước.
Thuật ngữ Cán bộ còn chỉ chung cho những người mang trọng trách, công vụ và có những quyền hạn nhất định. Thuật ngữ cán bộ cũng thường được những tù nhân trong trại giam gọi những người quản lý trại giam, cai tù, cai ngục ở Việt Nam. Cán bộ cũng là danh xưng thường được những người dân chỉ về những người có quyền hành (cán bộ lãnh đạo, cán bộ cao cấp, cán bộ quản lý, cán bộ nguồn.), hay đang thụ lý giải quyết một vụ việc cho người dân (cán bộ thuộc dịch vụ công cộng). Ở Việt Nam, theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Và cán bộ, công chức, viên chức đều là những người đang thi hành công vụ hay dịch vụ công. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì thực chất cán bộ là đầy tớ của nhân dân, cán bộ đóng vai trò quan trọng, họ là cái gốc của mọi công việc và công việc thành hay bại đều do cán bộ tốt hay kém và cán bộ nhất là cán bộ đảng viên của Việt Nam có nhiều người đang bị chủ nghĩa cá nhân đang ám ảnh, tha hóa. Họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần 7 chúng không tin, không phục, càng không yêu họ.
Cán bộ Đảng, đoàn thể cấp quận huyện và cấp xã phường - Cán bộ Đảng, đoàn thể cấp quận huyện là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước. - Cán bộ Đảng, đoàn thể cấp xã phường: Hiện nay thuật ngữ cán bộ Đảng, đoàn thể cấp xã phường được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, cán bộ Đảng, đoàn thể cấp xã phường là những người được đảng viên, hội viên, đoàn viên bầu ra giữ chức vụ trong tổ chức Đảng và đoàn thể, làm việc của nhà nước ở cấp xã phường được Nhà nước trả một khoản nhất định liên quan đến phụ cấp làm việc; chế độ lương, bảo hiểm. Với nghĩa này, ở cấp xã phường có rất nhiều người và bình quân một xã phường có khoảng 13-15 người bao gồm cả cán bộ, cán bộ bán chuyên trách và các ủy viên ban chấp hành. Phụ cấp của họ lấy từ Ngân sách nhà Nước hoặc có nguồn gốc từ Ngân sách nhà Nước, Bao gồm các đối tượng: +Cán bộ Đảng, đoàn thể cấp xã phường; +Những người hoạt động bán chuyên trách; +Những người hoạt động không chuyên trách.
Theo nghĩa hẹp, đó là thuật ngữ để chỉ những người làm việc cho Đảng ủy, các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã phường. Theo quy định của Nghị định 92/2009/NĐ-CP, đối tượng này được quy định bao gồm Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy; Trưởng các tổ chức chính trị- xã hội xã phường. Chất lượng cán bộ Đảng, đoàn thể Hiệu quả công việc phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng cán bộ. Có chủ trương, chính sách đúng nhưng phải có đội ngũ cán bộ có đầy đủ khả năng để triển khai thực hiện thì chủ trương, chính sách đó mới đi vào cuộc sống.
8 "Chất lượng" hiểu ở nghĩa chung nhất là "cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc" (Hoàng Phê, 2002). Với cách hiểu như vậy, chất lượng cán bộ cấp xã được xem xét dưới các góc độ sau: Trước hết, chất lượng cán bộ được xác định trong mối tương quan giữa số lượng với vị trí, vai trò và nhiệm vụ được giao. Chất lượng cán bộ trong thời kỳ mới đòi hỏi số lượng, cơ cấu hợp lý với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Tính hợp lý được biểu hiện sự tinh giản tối ưu, gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả, trong đó mỗi cá nhân phát huy được hết năng lực, sở trường của mình, có thể đảm đương tốt công việc được giao, đảm bảo cho bộ máy vận hành thông suốt và hiệu quả cao nhất.
Một đội ngũ quá đông sẽ gây ra sự trì trệ trong công việc, trong điều hành, gây dư thừa, lãng phí nhân lực và thiếu sự thúc đẩy tích cực của mỗi cá nhân. Tính hợp lý về số lượng biểu hiện ở sự cân đối và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với yêu cầu của công việc, nhiệm vụ đặt ra. Cơ cấu hợp lý, đó là sự cân đối giữa các thành phần giai cấp, độ tuổi, giới tính, thế hệ,. Sự hợp lý trong cơ cấu cán bộ sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả đội ngũ, sẽ tạo nên tính năng động, sự phối hợp nhịp nhàng và hài hoà trong hoạt động, tạo ra hiệu quả, năng suất lao động cao.
Thứ hai, chất lượng cán bộ được thể hiện ở trình độ, năng lực: bao gồm trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý nhà nước, quản lý kinh tế; sự am hiểu về đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thứ ba, thể hiện ở phẩm chất chính trị, đạo đức: đó là quan điểm, lập trường, tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ Đảng, đoàn thể; sự tín nhiệm của nhân dân và uy tín của họ trước tập thể. Thứ tư, phụ thuộc vào sức khỏe của cán bộ: Chất lượng sức khỏe người cán bộ là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá chất lượng cán bộ trong vai trò công tác, quản lý. Người CBCC có sức khỏe tốt sẽ có khả năng hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao.
Từ những đặc điểm trên, Chất lượng cán bộ Đảng, đoàn thể là sự tổng hợp chất lượng của từng cán bộ Đảng, đoàn thể của phường, được đánh giá thông qua 9 các tiêu chí về phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như khả năng thích ứng, đáp ứng yêu cầu thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao trong các mặt lĩnh vực công tác ở cơ sở. Đặc điểm của cán bộ Đảng, đoàn thể Đội ngũ Đảng, đoàn thể của quận, đặc biệt là cấp phường đa phần được hình thành từ nguồn tại chỗ (do bầu cử ở địa phương, trưởng thành từ các phong trào của địa phương, bộ đội xuất ngũ trở về địa phương sinh sống…). Họ và gia đình, họ hàng thường xuất thân, sinh sống ở địa phương, do đó có những mối quan hệ cộng đồng chồng chéo ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động công vụ. Nhưng cũng chính vì lẽ đó mà những người làm việc trong các cơ quan ở địa phương được xem là ít quan liêu nhất, gần dân và hiểu dân, được dân biết cặn kẽ nhất.
Vấn đề này vừa là mặt mạnh đồng thời cũng là mặt hạn chế đối với cơ quan Đảng, đoàn thể của quận. Đảng ủy và các tổ chức chính trị - xã hội có tính chất đặc thù, nhiều công việc được giải quyết ở địa bàn mang tính chất tự quản. Vì vậy, đòi hỏi các cơ quan Đảng, đoàn thể của quận và phường khi giải quyết các công việc ở địa bàn phải luôn chủ động, năng động với năng lực điều hành và trách nhiệm rất cao. Vị trí, vai trò của cán bộ Đảng, đoàn thể Đảng và đoàn thể là tổ chức chính trị, chính trị - xã hội có vai trò, vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị.
Đảng là đội tiên phong của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, là lực lượng lãnh đạo toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Đảng lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện trên mọi lĩnh vực, đề ra chủ trương, chính sách, nhiệm vụ chính trị và lãnh dạo thực hiện có hiệu quả. Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ vận động quần chúng thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và nhàn nước, tập hợp rộng rãi quần chúng nhân dân; giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật tại địa phương. Như vậy, cán bộ đóng vai trò quan trọng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội, phục vụ những lợi ích của nhân dân.
Trong công cuộc hội nhập và phát triển, đòi 10 hỏi người cán bộ trong bộ máy quản lý phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển. Hệ thống chức danh của cán bộ Đảng, đoàn thể của quận 1. Chức danh cán bộ Đảng, đoàn thể quận (1) Bí thư Quận ủy (2) Phó Bí thư Thường trực Quận ủy (3) Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam quận (4) Phó Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam quận (5) Trưởng ban, Phó Ban Tổ chức (6) Trưởng ban, Phó ban Dân vận (7) Trưởng ban, Phó ban Tuyên giáo (8) Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm UBKT Quận ủy (9) Chánh, Phó Văn phòng Quận ủy (10) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Nông dân (11) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ (12) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Liên đoàn lao động (13) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh (14) Bí thư, Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh quận 1.