MỞ ĐẦU 1. Tinh cấp thiết của đề tài Từ những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã làm biến đổi sâu sắc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, mở ra một thời đại mới cùng với sự phát triển của kinh tế tri thức. Hội nhập kinh tế thế giới, đất nước ta đã thực sự bước vào sân chơi của kinh tế tri thức, mặc dù điểm xuất phát về kinh tế- xã hội của đất nước ta còn thấp. Tuy phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức ngày càng nhiều hơn, song cũng đã mở ra cho đất nước ta những cơ hội rất lớn để đi tắt, đón đầu, giúp cho đất nước ta nhanh chóng thoát khỏi tình trạng kém phát triển, tiếp tục đẩy mạnh và hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Mục tiêu cao cả đó do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo có thể trở thành hiện thực hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó chất lượng nguồn nhân lực mà đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước là yếu tốt quan trọng nhất. Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức là một trong những nguồn nhân lực chất lượng cao mà Đảng ta đặc biệt quan tâm. Hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, đặc biệt sau Đại hội đổi mới (Đại hội VI năm 1986) đến nay; công tác cán bộ, công chức luôn được Đảng ta chú trọng và quan tâm. Hội nghị Trung ương 3- khóa VIII, Đảng ta đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”; Đảng ta quan tâm đối với cán bộ, công chức là sự quan tâm toàn diện, không chỉ cán bộ, công chức cấp cao, lãnh đạo, quản lý; cán bộ, công chức ở cấp Trung ương, tỉnh, huyện mà cả cán bộ, công chức ở cơ sở, xã, phường, thị trấn.
Như vậy, có thể thấy chất lượng cán bộ, công chức có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; nó là yếu tố quan trọng quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới. 2 Đối với tỉnh Quảng Ninh, chất lượng cán bộ, công chức là một trong những trọng điểm của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh với mục tiêu xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, là một trong những trung tâm phát triển năng động, toàn diện của phía Bắc. Đông Triều là thị xã cửa ngõ phía Tây của tỉnh Quảng Ninh, với diện tích tự nhiên của thị xã Đông Triều là 39.721,55ha; dân số 171,216 nghìn người, mật độ dân số 431 người/km2; với 11 dân tộc cùng sinh sống, về cơ cấu dân tộc thị xã Đông Triều: người Kinh chiếm đa số (97,6% dân số); còn lại là các dân tộc Tày, Sán Dìu, Hoa, Nùng, Dao, Mường, Thái và Sán Cháy (Nguồn: Ủy ban nhân dân thị xã Đông Triều, 2019); có vai trò quan trọng làm cầu nối Thủ đô Hà Nội với thành phố Hạ Long, cung cấp sản phẩm hàng hoá quan trọng và là địa bàn tham gia quá trình trung chuyển hàng hoá giữa hệ thống cảng biển và các thành phố, các tỉnh trong vùng và cả nước, do vậy vừa có cơ hội đóng vai trò là một trong những động lực phát triển, vừa phải đối mặt với các thách thức trong cạnh tranh khai thác và phát triển các ngành hàng có cùng lợi thế. Triển vọng Đông Triều sẽ trở thành thị xã trọng điểm thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch giải quyết việc làm để giảm áp lực cho các thành phố lớn.
Đối với thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, thực hiện công tác quản lý nâng cao chất lượng cán bộ, công chức là một trong những trọng điểm của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh với mục tiêu phấn đấu góp phần trong việc xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, là một trong những trung tâm phát triển năng động, toàn diện của phía Bắc. Thực trạng của thị xã Đông Triều trong những năm qua đã quân tâm việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức của thị xã để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; số cán bộ, công chức chất lượng cao của thị xã Đông Triều còn chiếm tỷ lệ thấp, có 01 cán bộ, công chức trình độ tiến sĩ, số cán bộ, công chức có trình độ thạc sỹ mới có 24 người, chiếm tỷ lệ rất thấp, vì thế năng suất nhân lực chưa cao, dẫn đến việc phát triển kinh tế- xã hội của thị xã chưa đạt được tối ưu. Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn như trên, tôi tiền hành thực hiện đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức thị xã Đông 3 Triều, tỉnh Quảng Ninh” làm nội dung nghiên cứu luận văn, với mong muốn thông qua đề tài đánh giá một cách khách quan thực trạng công tác chất lượng cán bộ, công chức của thị xã Đông Triều trên các phương diện trình độ, kỹ năng, nghiệp vụ, chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài, quy trình quản lý cán bộ, công chức. từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý cán bộ, công chức tại thị xã Đông Triều, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thị xã đề ra.
Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ, công chức thị xã Đông Triều; từ đó đưa ta một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.2 Mục tiêu cụ thể (1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về chất lượng cán bộ, công chức; (2) Đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ, công chức tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; (3) Phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cán bộ, công chức tại thị xã Đông Triều. (4) Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức tại thị xã Đông Triều.3 Câu hỏi nghiên cứu (1) Cán bộ, công chức là gì? Mối quan hệ giữa chất lượng cán bộ, công chức với phát triển kinh tế- xã hội là như thế nào? (2) Thực trạng cán bộ, công chức tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh hiện nay như thế nào? (3) Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh hiện nay như thế nào? (4) Có bao nhiêu yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cán bộ, công chức tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh? Hãy phân tích những yếu tố đó? (5) Để nâng cao chất lượng cán bộ, công chức thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh cần có những giải pháp cụ thể nào? 4 1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Luận văn nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức.2 Phạm vi nghiên cứu (1) Phạm vi nội dung: Đánh giá chất lượng cán bộ, công chức, các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức tại thị xã Đông Triều. (2) Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. (3) Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu, thu thập số liệu từ năm 2019 đến tháng 7 năm 2021.
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng năm 2020 đến tháng 8 năm 2021. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Cán bộ, công chức 1. Khái niệm về cán bộ: Thuật ngữ “cán bộ” xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta khoảng mấy chục năm gần đây, được dùng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Cán bộ, công chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong khoa học hành chính, theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra các cách giải thích khác nhau về các thuật ngữ "cán bộ", "công chức". Thuật ngữ "cán bộ" được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khu vực nhà nước và tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội. Tuy nhiên, để xác định cụ thể những tiêu chí nào là cán bộ thì từ trước đến nay chưa có văn bản nào quy định chính thức.
Ở Việt Nam, trải qua một thời gian dài cho đến trước khi Luật Cán bộ, công chức được ban hành năm 2008, trong nhận thức cũng như trong các hoạt động quản lý, chúng ta chưa xác định được rõ ràng cán bộ; công chức; viên chức. Trong hệ thống pháp luật của nước ta, kể từ Hiến pháp 1992 (đã sửa đổi, bổ sung) cho đến các luật khác (ví dụ như Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Luật Bình đẳng giới; Luật Giáo dục;.) đều có những điều, khoản sử dụng các thuật ngữ "cán bộ", "công chức", "viên chức", nhưng chưa có một văn bản luật nào giải thích các thuật ngữ này. Trong điều kiện thể chế chính trị của Việt Nam, có một điểm đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức luôn có sự liên thông với nhau. Theo yêu cầu nhiệm vụ, cơ quan có thẩm quyền có thể điều động, luân chuyển họ giữa các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.
Với điểm đặc thù này, việc nghiên cứu để xác định rõ cán bộ; công chức; viên chức một cách triệt để rất khó và phức tạp. Trong đời sống xã hội, từ lâu thuật ngữ "cán bộ" được sử dụng rộng rãi nhưng không theo một quy định nào. "Cán bộ" không chỉ để gọi những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, của Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội mà còn được sử dụng cả trong các hoạt động sự nghiệp như "cán bộ y tế", 6 "cán bộ coi thi", "cán bộ dân phố". Tương tự, cụm từ "công chức" và "viên chức" cũng vậy.
Có khi người ta sử dụng luôn cả cụm từ "cán bộ, công chức, viên chức" để chỉ chung những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.