Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ Công chức ngành Thuế — Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ Công chức tại văn phòng Cục Thuế tinh Ba Rịa-Vũng Tàu; ~_ Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ Công chức làm việc tại văn phòng Cục Thuế tỉnh Bà Rịa-` fing Tau, CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE CHAT LUQNG CONG CHỨC NGÀNH THUÊ 1. Cơ sở lý luận về chất lượng nguồn nhân lực 1. Nguôn nhân lực Mọi tổ chức dù lớn hay nhỏ đều sử dụng nhiều loại vốn khác nhau để hoạt động. Vốn bao gồm tiền mặt, vật có giá trị hoặc hàng hóa được sử dụng để tạo ra thu nhập cho một doanh nghiệp.
Ví dụ: một cửa hàng bán lẻ sử dụng sổ đăng ký va khoảng không quảng cáo, trong khi một công ty tư vấn có thể có phần mềm hoặc tòa nhà độc quyền. Bắt kể ngành công nghiệp nào, tắt cả các công ty đều có một điểm chung: họ phải có nhân lực để làm cho nguồn vốn của họ hoạt động cho họ. Heathfield (2021) thì *NNL là một người trong lực lượng lao động tổng thể của một tổ chức, mỗi người cho tô chức “vay” kỹ năng và tài năng của họ để giúp tô chức thành công. Bắt kỳ người nào sẵn sàng đánh đổi sức lao động, kiến thức.
hoặc thời gian của họ đề được đền bù nhằm nỗ lực cải thiện tổ chức đều là NNL, không quan trọng nếu họ là nhân viên bán thời gian, toàn thời gian, làm việc tự do hay hợp. Ở nước ta, khái niệm NNL được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới. Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về NNL. Theo giáo sư viên sỹ Phạm Minh Hạc, nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng đân cu, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất).TS Phạm Văn Đức thì: “Nguồn lực con người chỉ khả năng và phẩm chất của lực lượng lao.
động, đó không chỉ là số lượng và khả năng chuyên môn mà còn cả trình độ văn hóa, thái độ đối với công việc và mong muốn tự hoàn thiện của lực lượng lao động” (Trần Kim Dung, 2006). Sự phát triển của một tổ chức, doanh nghiệp sẽ được quyết định bởi nhiều nguồn. lực khác nhau. Tuy nhiên các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, sự phát triển của công nghệ, cơ sở vật chất, vị trí địa lý.cũng chỉ là những khách thể, chịu sự.
khai thác, cải tạo của nhân lực. Nói cách khác, các nguồn lực này chỉ tồn tại dưới dạng. Muốn phát huy tác dụng thì phải có sự khai thác, sử dụng, bảo vệ, tái tạo thông qua các hoạt động có ý thức của con người. Vai trò của NNL không chỉ dừng lại ở việc cung cấp và sử dụng các tư liệu lao động khác cho tổ chức mả còn quyết định đến sự thành công của tổ chức doanh nghiệp.
Phần lớn, việc áp dụng quan điểm chiến lược về Nhân sự liên quan đến việc coi nhân viên là "tài sản” và phát triển các chính sách và chương trình thích hợp như khoản đầu tư vào những tài sản này để nâng cao giá trị của họ đối với tổ chức và thị trường. 'Các tổ chức hiệu quả nhận ra rằng nhân viên của họ thực sự có giá trị, giống như tài sản vật chất và là nguồn vốn có giá trị của tổ chức. Không có một tổ chức nào chỉ có người đứng đầu làm việc mà vẫn có thể thành công. Cần phải có những nhân viên cùng đồng lòng, cùng triển khai công việc vì mục tiêu chung thì kế hoạch về sự thành công mới trở thành hiện thực được.
Suy cho cùng, để thực sự phát triển thì con người chính động lực lớn nhất, quan trọng nhất. Chính vì vậy các tổ chức, doanh nghiệp cần phải sử dụng và khai thác hợp. lý với nguồn nhân lực mà mình đang có. Chất lượng Mặc dù thuật ngữ chất lượng được sử dụng khá rộng rãi bởi các nhà thực hảnh và học giả, nhưng không có định nghĩa chung được thống nhất 16.
Garvin (1984) da phân biệt năm ý nghĩa khác nhau của thuật ngữ chất lượng, và được nghiên cứu bởi một số tác giả khác. Quan điểm siêu hình: Những nhà nghiên cứu theo quan điểm siêu hình cho rằng. chất lượng chính là “sự xuất sắc bẩm sinh”. Nó vừa tuyệt đối vừa dễ nhận biết, một dấu hiệu của các tiêu chuân không khoan nhượng và thành tích cao (Garvin, 1984).
Tuy nhiên, điều đó có nghĩa là phẩm chất là thứ có thể được thừa nhận nhưng không được. định nghĩa, hay nói cách khác, nó là tài sản đơn giản, không thể phân tích được, là lý tưởng mà chúng ta phải phấn đấu nhưng không bao giờ có thể đạt được trong thực tế khách quan. Chất lượng như vậy không thể được do lường bởi các chuyên gia và có. được cảm nhận thông qua kinh nghiệm.
Quan điểm dựa trên sản phẩm: Quan điểm này xác định chất lượng trên cơ sở các. đặc điểm hoặc thuộc tính có thể định lượng và đo lường được. kiểm tra chất lượng từ góc độ bên trong và giả định rằng một sản phẩm có đặc tính bên trong tốt thì cũng có đặc tính bên ngoài tốt. Quan điểm này được hỗ trợ trong tiêu chuẩn ISO- 9004, trong đó chất lượng được định nghĩa là sự phù hợp đề sử dụng.
hiệu suất, an toàn. và độ tin khi quan điểm này được gọi là chất lượng thiết ké (Juran va Gryna, 1980). Nhược điểm của cách tiếp cận này là nó không tính đến sở thích của một người dùng cụ thể và giả định rằng sự vắng mặt hoặc hiện diện của một thuộc tính ngụ ý chất lượng cao hơn. Nói cách khác, nó giả định rằng một vật sở hữu số lượng thuộc tính mong muốn càng lớn thì chất lượng càng cao.
Theo Leffler (1982), chất lượng đề cập đến số lượng các thuộc tính không được định giá có trong mỗi đơn vị của thuộc tính được định giá. Quan điểm dựa trên người dùng: Quan điểm này xác định chất lượng là sự phù hợp. cho mục đích. Đôi khi quan điểm này được gọi là chất lượng theo định hướng thị trường hoặc sở thích của người tiêu dùng (Juran và Gryna, 1980).
Nó dựa trên ÿ tưởng rằng chất lượng là một vấn đề riêng và những thứ đáp ứng tốt nhất sở thích của người dùng sẽ có chất lượng cao nhất. Mặc dù thực tế quan điểm dựa trên người dùng mang tính chủ quan cao, nhưng nó cụ thể hơn là quan điểm siêu việt vì nó dựa trên các đặc điểm của sản phẩm như khả năng sử dụng, độ tin cậy, hiệu suất và hiệu quả được đánh giá từ quan điểm của người dùng. Vì vậy, quan điểm này đánh đồng sự hai lòng của khách hàng với chất lượng. Theo đó, sản phẩm có chất lượng cao nếu đáp ứng được số lượng lớn người dùng.
Quan điểm dựa trên người dùng có lẽ là quan điểm phô biến nhất về chất lượng và ngay cả trong các định nghĩa về chất lượng được đưa ra bởi những người khởi xướng lý thuyết quản lý chất lượng, chẳng hạn như Crosby (1979), chất lượng được định nghĩa là “sự phù hợp với yêu cầu của người sử dụng” hoặc như “Sự phù hợp để sử dụng” (Juran và Gryna, 1980). Tuy nhiên, những người dùng khác nhau đặt trọng số khác nhau về các đặc tính chất lượng khác nhau, Chất lượng cảm nhận của dịch vụ có xu hướng ôn. định, trong khi sự hài lòng của người dùng có thể thay đổi đối với giao dịch này sang giao dịch khác. Người tiêu dùng có thể không hài lòng về dịch vụ vì những vấn đẻ không liên quan đến chất lượng, như nhu cầu, sở thích hoặc thói quen.
Do đó, định nghĩa chất lượng dựa trên người dùng là định nghĩa phức tạp nhất về chất lượng. Quan điểm dựa trên sản xuất: Quan điềm này định nghĩa chất lượng là sự phù hợp. với đặc điểm kỹ thuật yêu cầu, trong đó các yêu cầu được nêu chủ yếu bằng thuật ngữ kỹ thuật. Theo Gilmore (1974), “Chat lượng là mức độ mà một sản phẩm cụ thể phủ hợp.
với thiết kế hoặc đặc điểm kỳ th Quan điểm này dựa trên ý tưởng rằng bắt kỳ. sự sai lệch nào so với thông số kỹ thuật đều làm giảm chất lượng. Tương tự như quan điểm dựa trên sản phẩm, quan điểm dựa trên sản xuất xác định chất lượng theo các thuật ngữ khách quan và có thể đo lường, tuy nhiên, tập trung vào việc tạo ra các sản phẩm. hoặc dịch vụ không có lỗi nhưng không dựa trên sự vắng mặt hoặc hiện diện của một số thuộc tính.
Đôi khi quan điểm này được gọi là chất lượng của sự phủ hợp (Juran và Gryna, 1980). Mặc dù nó không bỏ qua sự quan tâm của người dùng về chất lượng, nó cho rằng mỗi quan tâm này có thể được thoả mãn nếu sản phẩm được cấu tạo đúng cách. Mục đích là một sản phẩm sẽ được chế tạo “ngay lần đầu tiên” và theo cách đó, chỉ phí làm lại sẽ được loại bỏ hoặc ít nhất là giảm (S. Quan điểm dựa trên sản xuất giả định rằng lỗi có thể được loại bỏ bằng cách tuân thủ các tiêu chuẩn quy trình và tập trung vào kỹ thuật và thực hành sản xuất.
Nó cũng giả định rằng chất lượng sản phẩm có thể được cải thiện từng bước bằng cách cải tiến quy trình. Nó được hỗ trợ bởi tiêu chuẩn ISO 9001 (2008). Tuy nhiên, quan điểm dựa trên sản xuất chỉ quan tâm đến nhu cầu hoặc sở thích của người dùng trong trường hợp chúng. được xác định chính xác và phản ánh trong đặc tả yêu cầu.
Ngoài ra, “định nghĩa về chất lượng phù hợp với quy cách có thể không phù hợp với các dịch vụ, đặc biệt là khi mức. độ cao của sự tiếp xúc với con người” (Reeves và Bednar, 1994), Quan điểm dựa trên giá trị: Quan điểm nảy xác định chất lượng là mức độ xuất sắc ở mức giá có thể chấp nhận được. Nó tạo ra sự đánh đổi giữa chi phí và chất lượng, nghĩa là nó quan tâm đến việc cung cắp chất lượng nhiều như mức mà khách hàng sẵn sang trả. Tuy nhiên, theo Garvin (1984), khó khăn khi áp dụng phương pháp này nằm ở -10- chỗ nó pha trộn giữa hai khái niệm liên quan nhưng khác biệt.
Chất lượng, là thước đo của sự xuất sắc, đang được đánh đồng với giá trị, là thước đo giá trị. Kết quả là một sự. lai tạp - “xuất sắc với giá cả phải chăng” - thiếu các giới hạn được xác định rõ và khó. áp dụng trong thực tế.
Tóm lại, chất lượng có nhiều cách định nghĩa khác nhau, mô tả nhiều loại hiện tượng và phụ thuộc vào bối cảnh xem xét khác nhau.