CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm bảo lãnh Ngân hàng • Bảo lãnh Theo Điều 361 Luật Dân sự 2005: "Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ ”. Định nghĩa trên đã thể hiện đuợc 03 mối quan hệ cơ bản giữa các bên trong hoạt động bảo lãnh.
Mối quan hệ này đuợc biểu hiện trong sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các bên trong hoạt động bảo lãnh Có thể thấy, trong quan hệ bảo lãnh luôn tồn tại ba bên: bên đuợc bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên bảo lãnh. Hoạt động bảo lãnh lúc này sẽ nhu chiếc cầu nối đảm bảo lòng tin giữa hai bên đuợc bảo lãnh và nhận bảo lãnh. 4 Người đứng ra bảo lãnh có thể là nhà nước, các cá nhân và ngân hàng, trong đó bảo lãnh của Nhà nước và cá nhân chỉ chiếm phần ít, chủ yếu là bảo lãnh ngân hàng, do ngân hàng là người có uy tín lớn và có khả năng tài chính, và quan trọng hơn cả là có nghiệp vụ. • Bảo lãnh Ngân hàng Bảo lãnh Ngân hàng trước hết là một trong những nghiệp vụ trung gian của các Ngân hàng thương mại, là một hình thức đảm bảo tận dụng nhằm hạn chế bớt những rủi ro trong hoạt động thương mại.
Bảo lãnh Ngân hàng được sử dụng rộng rãi từ khi hình thành đến nay và nó đã trở thành một trong những dịch vụ hấp dẫn nhất trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng hiện đại. Bảo lãnh Ngân hàng có thể được hiểu như sau: Bảo lãnh ngân hàng là sự cam kết của ngân hàng nhận bảo lãnh chịu trách nhiệm trả tiền không hủy ngang thay cho người xin bảo lãnh nếu người xin bảo lãnh không thực hiện đúng và đầy đủ những nghĩa vụ đã thoả thuận với người thụ hưởng đã quy định cụ thể tại thư bảo lãnh với ngân hàng. Cũng như các quan hệ bảo lãnh thông thường, bảo lãnh Ngân hàng cũng bao gồm 03 chủ thể: - Người hưởng bảo lãnh: là chủ thể được Ngân hàng nhận bảo lãnh cung cấp một sự đảm bảo và được bồi hoàn toàn bộ những thiệt hại do người được bảo lãnh gây ra. - Người xin bảo lãnh: là chủ thể được ngân hàng nhận bảo lãnh dùng uy tín của mình cấp một chứng thư cam kết bảo lãnh để thực hiện các quan hệ tài chính ở trong và ngoài nước.
- Ngân hàng nhận bảo lãnh: là chủ thể dùng uy tín của mình để cấp chứng thư cam kết bảo lãnh cho khách hàng thực hiện các quan hệ giao dịch, giúp cho khách hàng của mình có thêm điều kiện để được các đối tác tín nhiệm về mặt tài chính trong quan hệ giao dịch.2: Bảo lãnh ngân hàng Thông thường trong nghiệp vụ bảo lãnh bao gồm 3 hợp đồng riêng biệt, độc lập với nhau ứng với mỗi mối quan hệ giữa các bên tham gia: - Thư bảo lãnh: Là hợp đồng giữa ngân hàng phát hành bảo lãnh và người thụ hưởng. - Hợp đồng cơ sở: Là hợp đồng giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh. Đây có thể là hợp đồng mua bán, thi công. - Hợp đồng giữa người yêu cầu bảo lãnh và ngân hàng phát hành (đơn xin phát hành bảo lãnh) hay còn gọi là bảo lãnh đối ứng.
về bản chất, bảo lãnh ngân hàng là một hình thức tín dụng chứng từ. Chính vì vậy mà khi sử dụng nghiệp vụ này, ngân hàng cần phải thực hiện đúng theo qui trình của nghiệp vụ tín dụng nhằm đảm bảo an toàn và hạn chế những rủi ro có thể xảy ra. Sự ra đời và phát triển của bảo lãnh Ngân hàng • Sự ra đời của hoạt động bảo lãnh: Từ thời Hy Lạp cổ, hoạt động bảo lãnh đã xuất hiện trong những giao dịch nhỏ lẻ tuy nhiên vẫn còn ở mức sơ khai. Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX, bảo lãnh Ngân hàng mới bắt đầu được sử dụng tại các nước Tây Âu và Hoa Kỳ.
Bảo lãnh ngân hàng chỉ thực sự phát triển vào đầu thập niên 70 của thế kỷ này và trở thành một trong những loại hình dịch vụ hữu hiệu nhất của các ngân hàng hiện đại. Theo quan niệm Marketing, sự ra đời một sản phẩm dịch vụ mới nói chung và sự ra đời của bảo lãnh Ngân hàng nói riêng bắt nguồn từ ba nhân tố: Phát sinh nhu cầu, khả năng cung ứng và sự cho phép của luật pháp. Sự phát sinh nhu cầu bảo lãnh: Chính sự phát triển của nền kinh tế mà ở đây là sự phát triển của thương mại 6 và tín dụng đã làm nảy sinh xuất hiện những nhu cầu mới. - về thuơng mại: Xã hội loài nguời đã trải qua các hình thức sản xuất tự cung tự cấp và sản xuất hàng hoá.
Sản xuất hàng hoá ra đời tạo ra buớc nhảy vọt trong đời sống, kinh tế và tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của thuơng mại. Sự phát triển của thuơng mại làm tăng số luợng, giá trị và tốc độ các giao dịch của doanh nghiệp, vuợt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia. - về tín dụng: Tín dụng ra đời do nhu cầu chu chuyển vốn trong nền kinh tế giữa những nguời thừa vốn và những nguời thiếu vốn. Thuơng mại phát triển kéo theo sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các doanh nghiệp trên mọi lĩnh vực.
Để đổi mới sản phẩm, công nghệ đáp ứng thị truờng vốn trở nên cực kỳ quan trọng. Tín dụng khi đó không chỉ bao gồm quan hệ cung ứng vốn giữa các tổ chức trong một nuớc mà còn giữa các nuớc, các khu vực trên nhiều lĩnh vực nhung chủ yếu là thuơng mại với nguyên tắc hoàn trả vốn gốc và một phần lãi nhất định. Điều kiện cơ bản trong tín dụng là hoàn trả có nghĩa rằng nguời cho vay có thể thu hồi vốn và lãi sau một thời hạn nhất định. Nguợc lại, nguời cấp tín dụng sẽ phải đối mặt với rủi ro tín dụng nếu nguời vay không hoàn trả đúng yêu cầu.
Rủi ro này càng lớn khi tín dụng đuợc thực hiện ở phạm vi ngoài quốc gia. Sự phát triển của thuơng mại và tín dụng dẫn tới: + Sự thiếu hụt thông tin dẫn đến sự thiếu tín nhiệm với đối tác: Các giao dịch diễn ra với số luợng ngày càng lớn cũng nhu phức tạp hơn trong thời gian dài và trên phạm vi toàn cầu. Quá trình kinh doanh diễn ra với tốc độ chóng mặt, do vậy trong cùng một lúc một doanh nghiệp phải giao dịch với rất nhiều bạn hàng khác nhau. Họ thiếu thông tin về các bạn hàng cũng nhu đối thủ cạnh tranh.
Sự thiếu hụt thông tin có thể dẫn tới rủi ro về đạo đức do bạn hàng không đáp ứng các hợp đồng đã ký kết. Mâu thuẫn nảy sinh đó là sự thiếu hiểu biết về nhau làm các đối tác không có đủ độ tín nhiệm cần thiết để ký kết hợp đồng. + Tăng các rủi ro trong kinh doanh: Một doanh nghiệp trong kinh doanh phải gánh chịu rủi ro về lãi suất, tỷ giá, cạnh tranh, các rủi ro bất khả kháng. Rủi ro có thể gây ra những hậu quả không luờng truớc đuợc cho các doanh nghiệp, thậm chí 7 gây ảnh hưởng đến cả nền kinh tế theo cơ chế lan truyền.
Rủi ro ví dụ như các rủi ro bất khả kháng đôi khi nằm ngoài khả năng kiểm soát của con người. Quản trị rủi ro là khó khăn đặc biệt là các rủi ro lan truyền từ đối tác. Do đó, các doanh nghiệp luôn tìm cách giảm thiểu rủi ro. Như vậy, từ bản thân nền kinh tế xuất hiện nhu cầu cần có công cụ ngăn ngừa rủi ro từ đối tác, khắc khục tình trạng thiếu hụt thông tin làm các bên yên tâm thực hiện giao dịch.
Về mặt thanh toán các rủi ro đã được kiểm soát bởi các hình thức tín dụng chứng từ, bảo đảm hối phiếu. Còn các rủi ro về không thực hiện không đơn thuần là nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng, nó là cơ sở ra đời của một công cụ mới- bảo lãnh. Khả năng cung ứng: Nhu cầu bảo lãnh nảy sinh đòi hỏi có một người thứ ba đứng ra làm trung gian bảo đảm các bên yên tâm thực hiện hợp đồng. Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trung gian tài chính với các điều kiện sau: - Có khả năng bảo đảm về tài chính, có uy tín trong kinh doanh tiền tệ.
- Chuyên cung cấp các dịch vụ trung gian tài chính cho nền kinh tế. - Có khả năng nắm bắt, thu thập thông tin do có mạng lưới khách hàng và đội ngũ cán bộ chuyên môn. về pháp luật: Tại một số quốc gia trên thế giới, hoạt động bảo lãnh được thực hiện bởi các công ty bảo hiểm như ở Mỹ và Canada. Tuy nhiên ngân hàng được phép thực hiện nghiệp vụ này tại hầu hết các nước.
Như vậy sự ra đời và tồn tại của bảo lãnh ngân hàng là khách quan và cần thiết. • Sự phát triển hoạt động bảo lãnh Ngày nay, hoạt động bảo lãnh Ngân hàng được sử dụng ngày càng rộng rãi, phần nào đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế tại các quốc gia, các khu vực và trên toàn thế giới. Doanh số bảo lãnh của các Ngân hàng gia tăng nhanh chóng. Bảo lãnh Ngân hàng không chỉ được sử dụng trong mọi lĩnh vực ở các nước phát triển mà còn là phương tiện bảo đảm tương đối phổ biến trong các giao dịch 8 kinh tế và dân sự ở các quốc gia đang phát triển.
Bảo lãnh ngân hàng còn được phát triển cả về hình thức sử dụng. Bảo lãnh có điều kiện là loại hình bảo lãnh đầu tiên xuất hiện, xuất phát từ thị trường Hoa Kỳ với các loại như bảo lãnh bổ sung , bảo lãnh tiền bảo chứng. Tuy nhiên, các loại hình bảo lãnh này tỏ ra không hiệu quả và bất lợi cho bên yêu cầu bảo lãnh vì người bảo lãnh có thể viện dẫn lý do biện hộ để không thanh toán dẫn tới các tranh cãi phát sinh. Các NHTM e ngại khi phát hành những bảo lãnh này do không muốn dính líu đến các rắc rối trong hợp đồng.
Loại bảo lãnh được ưa chuộng nhất là bảo lãnh thanh toán theo yêu cầu hay bảo lãnh vô điều kiện.