LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta luôn đạt tăng trưởng cao. Cùng với sự ổn định về chính trị, tăng trưởng kinh tế tăng liên tục với mức tăng bình quân 8% một năm đã thúc đẩy các hoạt động đầu tư, xây dựng, kinh doanh, dịch vụ phát triển tạo việc làm tăng thu nhập, nâng cao chất lượng đời sống người dân. Cùng với đó, nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng tăng theo. Tuy nhiên, không phải lúc nào nhu cầu tiêu dùng đó cũng được đáp ứng bởi khả năng thanh toán.
Trước thực tế đó, các NHTM đã thực hiện cung cấp các khoản cho vay tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng và đồng thời nhằm mở rộng hoạt động và tăng khả năng cạnh tranh của mình. Cho vay tiêu dùng bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng những năm 1993-1994 và chỉ thực sự phát triển vào những năm 2002 trở lại đây. Tuy nhiên, trong khi cho vay tiêu dùng phát triển rất mạnh ở các nước thì ở Việt Nam cho vay tiêu dùng chưa thực sự được các ngân hàng quan tâm sâu sắc, kết quả cho vay tiêu dùng của các tổ chức tín dụng Việt Nam còn rất hạn chế. Với tư cách là một trung gian tài chính quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế, các Ngân hàng phải làm gì để đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng, cùng với đó là đảm bảo an toàn, hiệu quả để từ đó tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng và đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế và toàn xã hội đang là một câu hỏi rất được quan tâm.
Nhưng mở rộng cho vay tiêu dùng thì đồng thời các NHTM sẽ phải chấp nhận mức rủi ro cao hơn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến các NHTM chưa dám mở rộng mạnh mẽ hoạt động này. Ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín (Sacombank) là một ngân hàng thương mại cổ phần chủ yếu tập trung vào đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ, tầng lớp dân cư trung lưu ở đô thị. Do vậy, Chi nhánh đã có cho vay tiêu dùng trong doanh mục sản phẩm, nhưng cho vay tiêu dùng hiện chỉ chiếm tỷ trọng chưa lớn trong hoạt động cho vay của Chi nhánh.
Tuy nhiên, với mạng lưới hoạt động rộng lớn, đời sống dân cư ngày càng được cải thiện, lại nằm ở địa bàn thuận lợi nên tiềm năng phát triển và mở rộng Sv: Lê Thị Việt Anh – QT1301T Trang 1 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP cho vay tiêu dùng là rất lớn.Qua thời gian thực tập tại chi nhánh, em đã có cơ hội tiếp xúc, tìm hiểu các hoạt động, lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng. Từ những kiến thức đã học ở trường cùng với kiến thức thu nhận được qua quá trình thực tập, em đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn thƣơng tín – Chi nhánh Hải Phòng” làm đề tài khóa luận của mình. Kết cấu khóa luận gồm 3 chương như sau: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về tín dụng tiêu dùng và hiệu quả tín dụng tiêu dùng của Ngân hàng thương mại. Chƣơng 2: Thực trạng cao nâng hiệu quả tín dụng tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín Chi nhánh Hải Phòng Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín Chi nhánh Hải Phòng Sv: Lê Thị Việt Anh – QT1301T Trang 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG VÀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại (NHTM) là một định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nển kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân để phát triển kinh tế xã hội. Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên.
Luật Ngân hàng của nhiều nước trên thế giới đều cho rằng: NHTM là những tổ chức tài chính trung gian với nhiệm vụ thường xuyên là nhận tiền gửi của công chúng dưới hình thức kí thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng nguồn lực đó trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. NHTM là loại hình ngân hàng có số lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế. Sự có mặt của Ngân hàng thương mại trong hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế xã hội đã chứng minh rằng: Ở đâu có một hệ thống Ngân hàng thương mại phát triển, thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế - xã hội. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại Theo khái niệm trên ta có thể biết đến NHTM qua 3 hoạt động chính của nó: Hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và hoạt động trung gian.
Hoạt động huy động vốn Đây là hoạt động thường xuyên, liên tục, đóng vai trò quyết định trong hoạt Sv: Lê Thị Việt Anh – QT1301T Trang 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP động của ngân hàng thương mại bởi nếu so sánh với tổng tài sản thì vốn tự có của ngân hàng chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, chủ yếu nguồn vốn hoạt động của ngân hàng có được là nhờ huy động từ bên ngoài. Ngân hàng có thể huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi tiết kiệm (có kỳ hạn, không kỳ hạn), tiền gửi thanh toán, tiền gửi của các tổ chức tài chính, phát hành kì phiếu, trái phiếu, vay Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các Tổ chức tín dụng (TCTD) khác. Thông thường với các ngân hàng có uy tín, có quy mô vốn tự có lớn thì khả năng huy động vốn lớn hơn và chi phí huy động vốn cũng ít tốn kém hơn. Hoạt động sử dụng vốn: Song song với huy động vốn là hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại.
Đây chính là việc ngân hàng sử dụng các nguồn vốn huy động được để tạo nên các tài sản khác nhau nhằm thu lợi nhuận. Các khoản mục tài sản của ngân hàng thương mại bao gồm tiền mặt và ngân phiếu thanh toán, tiền gửi tại NHNN và các TCTD khác, cho vay, đầu tư kinh doanh khác, trong đó tập trung chủ yếu vào cho vay và đầu tư. Hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính (trung gian): Hiện nay ở hầu hết các quốc gia, ngân hàng là trung gian thanh toán lớn nhất. Ngân hàng thay mặt cho khách hàng của mình thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ.
Để việc thanh tóan diễn ra nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm chi phí, ngân hàng đã triển khai rất nhiều loại hình dịch vụ như chuyển tiền, thanh toán (bằng séc hoặc ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, hối phiếu, L/C), cung cấp các dịch vụ bảo lãnh, trung gian giải ngân và các dịch vụ tiện ích khác. Tín dụng tiêu dùng của ngân hàng thƣơng mại và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế xã hội 1. Khái niệm tín dụng tiêu dùng Tín dụng tiêu dùng của NHTM là hình thức ngân hàng tài trợ cho các cá nhân, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, tạo cho người tiêu dùng khả năng thanh toán trước khi họ thanh toán đầy đủ. Sv: Lê Thị Việt Anh – QT1301T Trang 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Tín dụng tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm các cá nhân và hộ gia đình.
Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp những người này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ,. Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch…cũng có thể được tài trợ bởi cho vay tiêu dùng. Đặc điểm của tín dụng tiêu dùng Tín dụng tiêu dùng thực tế cũng là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng. Vì vậy, bên cạnh việc mang các đặc điểm của khỏan vay thông thường như khách hàng phải cam kết hoàn trả cả gốc và lãi với thời gian xác định, khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay theo mục đích thỏa thuận với ngân hàng….thì cho vay tiêu dùng còn có một số đặc điểm khác.
Đó là: Thứ nhất, quy mô món vay nhỏ nhưng số lượng các món vay lớn: Các món vay tiêu dùng là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân, hộ gia đình. Giá trị các sản phẩm mà khách hàng của ngân hàng có nhu cầu tiêu dùng thường không lớn, không quá đắt (kế cả vay mua nhà hoặc sửa chữa nhà). Do vậy, so với các món vay sản xuất kinh doanh khác thì nhu cầu vốn cho vay tiêu dùng nhỏ hơn rất nhiều. Mặt khác, không một ngân hàng nào cho vay tiêu dùng 100% nhu cầu vốn mà thường đòi hỏi khách hàng phải có tỷ lệ tích lũy nhất định so với tổng nhu cầu vốn.
Do vậy, quy mô các món vay tiêu dùng nhỏ. Bên cạnh đó, khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí ngày càng cao, nhu cầu vay vốn ngân hàng để phục vụ tiêu dùng ngày càng tăng và phồ biến. Vì thế, số lượng các món vay tiêu dùng lớn. Thứ hai, nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế Tín dụng tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ.
khác với cho vay sản suất kinh doanh, nhu cầu vay luôn cần thiết bất kể nền kinh tế đang ở trạng thái nào (khi nền kinh tế tăng trưởng, các doanh nghiệp cần thiết vay để đầu tư; khi nền kinh tế suy thoái, các nhà sản xuất, các doanh nghiệp cần thiết vay để ổn định, phục hồi sản xuất kinh doanh). Trong khi đó, khi nền kinh tế tăng trưởng Sv: Lê Thị Việt Anh – QT1301T Trang 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP sản xuất mở rộng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, thu nhập của người lao động tăng lên, đời sống được cải thiện, mọi người dân cảm thấy lạc quan về tương lai, nhu cầu mua sắm hàng hóa dịch vụ nhờ đó tăng lên.