Chương 1 bao gồm 6 trang,trình bày tính cấp thiết của đề tài, tổng quan, phương pháp nghiên cứu và bố cục của khóa luận. - Chương 2: Cơ sở lý luận về mở rộng thị trường xuất khẩu Chương này gồm 18 trang, bao gồm cơ sở lý thuyết về mở rộng thị trường xuất khẩu, đưa ra các khái niệm nghiên cứu, các lý thuyết liên quan. - Chương 3: Phân tích thực trạng hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu mặt hàng trang phục ngoài trời của công ty TNHH Kido Vinh Chương này bao gồm 32 trang, giới thiệu về công ty, phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu của công ty nói chung và hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu mặt hàng trang phục ngoài trời nói riêng của công ty. - Chương 4: Kiến nghị và đề xuất một số giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu mặt hàng trang phục ngoài trời của công ty TNHH Kido Vinh.
Chương này bao gồm 13 trang. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 2. Lý luận chung về xuất khẩu hàng hóa 2. Khái niệm xuất khẩu hàng hóa Khái niệm hàng hóa Hàng hóa là một trong những khái niệm cơ bản của kinh tế học, tuy nhiên khái niệm về hàng hóa lại có nhiều quan điểm khác nhau và thay đổi theo các giai đoạn phát triển kinh tế của nền kinh tế.
Theo Luật giá năm 2013, hàng hoá là tài sản có thể trao đổi, mua, bán trên thị trường, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người, bao gồm các loại động sản và bất động sản. Theo Từ điển Việt Nam: hàng hóa là một trong những phạm trù cơ bản của kinh tế chính trị. Theo nghĩa hẹp, hàng hóa là vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian và có thể trao đổi, mua bán được. Theo nghĩa rộng, hàng hóa là tất cả những gì có thể trao đổi, mua bán được.
Theo Luật Thương mại năm 2005: Tại khoản 2 Điều 3 của Luật phân loại hàng hoá thành 2 nhóm: Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; và những vật gắn liền với đất đai. Theo kinh tế chính trị Marx-Lenin (nguồn trích dẫn wikipedia.org): hàng hóa cũng được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán. Hàng hóa có thể là hữu hình như sắt thép, quyển sách hay ở dạng vô hình như sức lao động. Karl Marx định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó.
Để đồ vật trở thành hàng hóa cần phải có: tính ích dụng đối với người dùng: giá trị (kinh tế), nghĩa là được chi phí bởi lao động: sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm. Tóm lại, hàng hóa là sản phẩm thu được từ lao động và có thể thỏa mãn những nhu cầu của con người, có thể đi vào tiêu dùng qua quá trình trao đổi – mua bán, là tất cả những gì có thể trao đổi được. Khái niệm xuất khẩu Một cách hiểu nôm na thì xuất khẩu là hoạt động bán hàng hóa hoặc dịch vụ ra nước ngoài và sản phẩm và dịch vụ ấy phải di chuyển ra khỏi biên giới một quốc 9 gia , nó không phải là hành vi bán hàng riêng lẻ mà là hệ thống bán hàng có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân. Khái niệm hàng hóa xuất khẩu Hàng hóa xuất khẩu ở đây được hiểu là những sản phẩm hữu hình liên quan đến thương mại hàng hóa, được sản xuất hoặc gia công tại các cơ sở sản xuất hoặc khu chế xuất với mục đích tiêu thụ ở thị trường nước ngoài và phải qua hải quan.
Theo định nghĩa này, hàng tạm nhập tái xuất cũng được xem là hàng hóa xuất khẩu, trong khi hàng hóa quá cảnh thì không được coi là hàng xuất khẩu. Do đó, hàng dệt may xuất khẩu là các sản phẩm dệt may được sản xuất tại các doanh nghiệp dệt may nhằm tiêu thụ tại thị trường nước ngoài và phải qua hải quan, hoặc là các sản phẩm dệt may tạm nhập tái xuất. Khái niệm xuất khẩu hàng hóa Theo Luật thương mại 2005, điều 28 khoản 1 thì khái niệm xuất khẩu mang tính vĩ mô hơn. Cụ thể: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Theo Feenstra và Taylor (Giáo trình Thương mại quốc tế, 2010): “Các quốc gia mua và bán hàng hoá, dịch vụ từ nhau.
Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác.” Như vậy, bản chất của xuất khẩu hàng hóa là hoạt động cung cấp hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài hoặc khu vực đặc biệt trên lãnh thổ quốc gia. Vai trò của hoạt động xuất khẩu hàng hóa Xuất khẩu có vai trò lớn trong sự phát triển kinh tế. Vai trò của xuất khẩu phải xét đến khía cạnh đối với đất nước và đối với doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp - Thứ nhất, hoạt động xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng doanh thu.
Bằng cách tiếp cận các thị trường mới, doanh nghiệp không chỉ mở rộng quy mô kinh doanh mà còn gia tăng hiệu quả sản xuất. Việc đa dạng hóa 10 sản phẩm và tận dụng lợi ích từ quy mô sản xuất lớn giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. - Thứ hai, xuất khẩu giúp nâng cao vị thế doanh nghiệp. Xuất khẩu là cầu nối giúp doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế, xây dựng thương hiệu và mở rộng mạng lưới đối tác.
Việc tiếp cận với khách hàng toàn cầu không chỉ tăng cường vị thế của doanh nghiệp mà còn tạo cơ hội hợp tác kinh doanh lâu dài. - Thứ ba, xuất khẩu là cơ sở thúc đẩy, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Trước sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp của các quốc gia khác, doanh nghiệp xuất khẩu phải luôn tìm cách hoàn thiện, đổi mới sản phẩm, nâng cao quy trình quản lý, kinh doanh,. qua việc áp dụng các trang thiết bị, máy móc, công nghệ hiện đại trong quá trình sản xuất và quản lý.
Từ đó, các sản phẩm được sản xuất có sự hoàn thiện về chất lượng, đa dạng về mẫu mã. Các hoạt động về quản lý, kinh doanh như phân phổi, marketing,. cũng được hoàn thiện và hiệu quả hơn. Việc áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất và quản lý giúp doanh nghiệp đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường và gia tăng lợi thế cạnh tranh.
Đối với quốc gia - Thứ nhất, đem lại nguồn ngoại tệ cho đất nước. Xuất khẩu đóng vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Trước hết, hoạt động xuất khẩu mang lại nguồn ngoại tệ dồi dào, góp phần cân bằng cán cân thanh toán, tăng cường dự trữ ngoại hối và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. - Thứ hai, nguồn thu từ xuất khẩu tạo điều kiện cho việc nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại, từ đó thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đồng thời, nguồn vốn này còn được tái đầu tư vào các lĩnh vực khác, tạo ra chuỗi giá trị gia tăng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. - Thứ ba, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm. Để cạnh tranh thành công trên thị trường quốc tế, các doanh nghiệp xuất khẩu không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ, áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế. Điều này không chỉ giúp hàng hóa Việt Nam khẳng định vị thế trên thị trường thế giới mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung.
11 - Thứ tư, xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ nền kinh tế nông nghiệp truyền thống sang nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ hiện đại, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Các hình thức xuất khẩu hàng hóa ở Việt Nam Xuất khẩu trực tiếp Là hình thức xuất khẩu được bên bán, bên mua trực tiếp trao đổi và ký kết hợp đồng ngoại thương với nhau. Hợp đồng này phải tuân thủ, phù hợp với pháp luật của cả hai quốc gia, đồng thời đáp ứng đúng tiêu chuẩn của điều lệ mua bán quốc tế. Ưu điểm của hình thức này là doanh nghiệp có thể tư do tìm kiếm đối tác thương mại, quyết định giá bán, phương thức thanh toán… miễn đảm bảo chúng nằm trong khuôn khổ chính sách của Nhà nước.
Do đó, các doanh nghiệp xuất khẩu lớn, có uy tín và có đội ngũ chuyên môn thường lựa chọn hình thức này. Xuất khẩu gián tiếp (ủy thác) Đúng như tên gọi của nó, ở hình thức này doanh nghiệp không trực tiếp trao đổi với đối tác, mà thông qua đơn vị trung gian. Đơn vị này sẽ nhận ủy thác từ doanh nghiệp bạn và đưa hàng ra nước ngoài. Những doanh nghiệp nhỏ không có nhiều kinh nghiệm về thương mại quốc tế, hoặc chưa có đội ngũ chuyên trách, nên xuất khẩu theo hình thức này.
Họ chỉ cần làm hợp đồng ủy thác cho đơn vị trung gian để thay họ lo các thủ tục xuất hàng. Gia công hàng quốc tế Gia công quốc tế là hoạt động thương mại trong đó bên nhận gia công sử dụng nguyên vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc một số công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên nhận gia công để hưởng thù lao. Với hình thức gia công quốc tế, thị trường nước ngoài là nơi cung cấp nguyên vật liệu sản xuất sản phẩm, đồng thời, cũng là thị trường tiêu thụ sản phẩm đó. Gia công quốc tế được áp dụng phổ biến trong thương mại quốc tế bởi những ưu điểm của hình thức này.
Cụ thể, đối với bên đặt gia công, phương thức gia công quốc tế giúp giảm giá thành sản phẩm do tận dụng được nguồn nhân lực giá rẻ từ các nước nhận gia công. Đối với bên nhận gia công, phương thức này giúp tăng cơ hội việc làm, tăng thu ngoại tệ, giúp thu hút công nghệ, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý từ nước ngoài. 12 Hình thức xuất khẩu này khá phổ biến ở nước ta.