mở đầu hoặc tiếp nối trong quá trình thanh toán đã được người thụ hưởng khởi xướng. Người thụ hưởng la bên thú: hai trong thanh toan. Họ là người nhận được tiền do bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ hoặc cũng có thể do luật định. Bên thứ ba trong quá trình thực hiện TTKDTM là trung gian thanh toán.
Họ là các NHTM, kho bạc Nhà nước, ngân hàng trung ương. Có thể nói sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng đóng vai trò quyết định với sự ra đời của phương thức TTKDTM. NHTM với vai trò trung gian thanh toán thực hiện thanh toán theo 8 yêu cầu của khách hàng nhu trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ hay một nghĩa vụ trả tiền nào đó hoặc ghi có vào tài khoản của khách hàng những khoản thu theo lệnh của họ. Trong TTKDTM, ngân hàng vừa là nguời tổ chức vừa là nguời thực hiện các khoản thanh toán.
Chỉ có ngân hàng, nguời quản lý tài khoản tiền gửi của các khách hàng mới đuợc quyền trích chuyển những tài khoản này theo các nguyên tắc chuyên môn đặc thù nhu là một nghiệp vụ riêng. Với nghiệp vụ này, ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán đối với các khách hàng của mình. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phuơng tiện thanh toán tiện lợi nhu séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng. Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phuơng thức thanh toán phù hợp.
Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp nguời phải thanh toán. Dù ở gần hay xa, họ có thể sử dụng một phuơng thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm đuợc rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy luu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ luu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
Tài khoản sử dụng trong thanh toán không dùng tiền mặt Tài khoản sử dụng trong TTKDTM là tài khoản thanh toán. Đây là loại tài khoản mà khách hàng gửi tiền vào không nhằm mục đích huởng lãi mà để đáp ứng nhu cầu thanh toán với các cá nhân, tổ chức khác đuợc diễn ra nhanh, an toàn, thuận lợi. Số du trong tài khoản này không đuợc huởng lãi hoặc đuợc huởng lãi suất rất thấp. Theo Nghị định 101/2013/NĐ-CP “về thanh toán không dùng tiền mặt” thì việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán phải đuợc thực hiện bằng hợp đồng giữa các bên liên quan, trong đó xác định rõ quyền và trách nhiệm của các bên theo đúng quy định của pháp luật.
Nghị định này cũng quy định rõ về việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán của Ngân hàng Nhà nuớc, của tổ chức tín dụng, của cá nhân và tổ chức không phải tổ chức tín dụng. Chứng từ sử dụng trong thanh toán Chứng từ dùng trong nghiệp vụ thanh toán có thể là chứng từ bằng giấy hoặc chứng từ điện tử. Thích ứng với mỗi hình thức thanh toán có các chứng từ phù hợp. Chứng từ bằng giấy sử dụng trong thanh toan gồm : séc; ủy nhiệm chi; đơn đề nghị mở thứ tín dụng ; bảng kệ nộp séc.
Chứng từ điện tử sử dụng trong thanh toán điện tử gồm lệnh chi, lệnh thu. Các phương tiện và phương thức thanh toán không dùng tiền mặt đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại 1. Các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt đối với khách hàng cá nhân a) Séc Séc là một mệnh lệnh trả tiền vồ điều kiện thể hiện dứới dạng chứng từ của ngứời chủ tài khoản, ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho ngứời có tện trong séc, hoặc trả theo lệnh của ngứời ấy hoặc trả cho ngứời cầm séc một số tiền nhất định, bằng tiền mặt hay bằng chuyển khoản. b) Ủy nhiệm chi Ủy nhiệm chi (hoặc lệnh chi) là phứơng tiện thanh toán mà ngứời trả tiền lập lệnh thanh toán theo mẫu do Ngân hàng quy định, gửi cho ngấn hàng nơi mình mở tài khoản yệu cầu trích một số tiền nhất định trện tài khoản của mình để trả cho ngứời thụ hứởng.
c) Thẻ ngấn hàng Thẻ ngấn hàng là phứơng tiện thanh toán do ngấn hàng cung cấp cho khách hàng sử dụng trong thanh toán và rút tiền mặt tại ngấn hàng hoặc ở các máy rut tiền tự động. Sự ra đời và phát triển thẻ gắn liền với ứng dụng cồng nghệ thông tin trong lĩnh vực ngấn hàng. Thẻ ngân hàng có nhiều loại khác nhau, nhứng nhìn chung có hai loại: thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ. • Thẻ tín dụng Đấy là một cồng cụ thanh toán khồng dùng tiền mặt cho phép khách hàng 10 được chi tiêu trước trả tiền sau.
Mỗi ngân hàng có quy định khác nhau về thời gian khách hàng cần trả tiền cho ngân hàng kể từ khi họ sử dụng thẻ để mua hàng hóa dịch vụ. Neu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dư nợ vào ngày đến hạn, thì họ sẽ được miễn lãi với số dư nợ cuối kỳ. Tuy nhiên, nếu hết thời hạn này mà toàn bộ số dư nợ không được thanh toán, chủ thẻ sẽ chịu phí và lãi trả chậm. Khi toàn bộ số tiền phát sinh được hoàn trả cho ngân hàng, hạn mức thẻ tín dụng sẽ được khôi phục như ban đầu.
Mức dư nợ tối đa của từng khách hàng được quy định không giống nhau. Điều này phu thuộc vào uy tín và khả năng chi trả của từng khách hàng • Thẻ ghi nợ Thẻ ghi nợ là hình thức phát triển cao hơn của thẻ ATM. Với đặc tính thuận tiện, ATM đã trở thành sản phẩm phổ biến, đặc biệt có tốc độ tăng trưởng cao tại các nước phát triển. Tuy nhiên, khi sử dụng thẻ ATM, chủ thẻ chỉ tiếp cận với tài khoản của mình từ máy rút tiền tự động.
Đối với thẻ ghi nợ, khách hàng có thể sử dụng thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thẻ, hoặc thực hiện các giao dịch liên quan với tài khoản tại máy rút tiền tự động. Mức chi tiêu của chủ thẻ chỉ phụ thuộc vào số dư trong tài khoản. Ngân hàng giữ vai trò cung cấp dịch vụ và thu phí từ khách hàng. Các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt đối với khách hàng cá nhân • Phương thức chuyển tiền Thông qua việc mở tài khoản thanh toán cho khách hàng, ngân hàng có thể cung cấp cho khách hàng rất nhiều dịch vụ đi kèm trong đó có dịch vụ chuyển tiền bao gồm chuyển tiền trong nước và chuyển tiền quốc tế.
Chuyển tiền trong nước là một trong các nghiệp vụ của ngân hàng, theo đó ngân hàng chuyển tiền từ tài khoản của khách hàng sang một tài khoản khác tại cùng hoặc khác ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng. Phương thức chuyển tiền trong nước đáp ứng nhu cầu chuyển tiền sang tài khoản cùng hoặc khác hệ thống ngân hàng, cùng hoặc khác tỉnh thành phố. Các ngân hàng thực hiện dịch vụ này cho khách hàng bằng các kênh chuyển tiền như thanh toán bù trừ, thanh toán song 11 phương, thanh toán thu hộ chi hộ, và hiện đại nhất là kênh thanh toán điện tử liên ngân hàng. Bên cạnh nghiệp vụ chuyển tiền trong nước, ngân hàng còn cung cấp dịch vụ chuyển tiền quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu chuyển tiền ra nước ngoài hay thanh toán các khoản phi mậu dịch.
Đây là việc chuyển tiền giữa khách hàng trong nước và khách hàng nước ngoài bao gồm chuyển tiền đi và chuyển tiền đến. • Phương thức thanh toán trực tuyến Thanh toán trực tuyến là phương thức thanh toán thông qua mạng internet thay vì bằng tiền mặt. Phương thức thanh toán này giờ đây không còn xa lạ với người tiêu dùng Việt Nam. Các hình thức thanh toán trực tuyến phổ biến bao gồm: thanh toán bằng thẻ; thanh toán qua cổng internet của ngân hàng như dịch vụ internet banking, mobile banking; thanh toán bằng ví điện tử.
Quy trình thanh toán không dùng tiền mặt một số công cụ thanh toán phổ biến đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại 1. Quy trình thanh toán bằng ủy nhiệm chi Ủy nhiệm chi được sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, công nợ hoặc chuyển tiền đi nơi khác cho tổ chức hoặc cá nhân. Ủy nhiệm chi có thể dùng để thanh toán giưa hai chủ thể có tài khoản tại cùng hoặc khác tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.1: Quy trình thanh toán ủy nhiệm chi Bước 1: người bán cung ứng dịch vụ, hàng hóa cho bên mua 12 - Bước 2 : Người mua lập ủy nhiệm chi gửi tói ngân hàng phục vụ mình yêu cầu trích tiền từ tài khoản của mình thanh toán cho người bán - Bước 3: ngân hàng phục vụ người mua tiếp nhận và kiểm tra ủy nhiệm chi. Neu ủy nhiêm chi hợp lệ, ngân hàng trích nợ tài khoản khách hàng chuyển tiền sang ngân hàng phục vụ người bán thông qua quan hệ thanh toán vốn giữa các ngân hàng (thanh toán bù trừ, thanh toán qua tà khoản tại Ngân hàng Nhà nước, thanh toán điện tử liên ngân hàng, thanh toán song phương,.
- Bước 4: ngân hàng phục vụ người bán nhận được tiền chuyển của ngân hàng người mua, sau khi kiểm tra sẽ ghi có vào tài khoản người bán. - Trường hợp ủy nhiệm chi cùng ngân hàng, sau khi nhận được ủy nhiệm chi của khách hàng và kiểm tra ủy nhiệm chi hợp lệ, ngân hàng sẽ trích nợ tài khoản người mua và ghi có tài khoản người bán. Quy trình thanh toán séc Chủ thể tham gia thanh toán séc bao gồm người ký phát séc, người thụ hưởng tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Phạm vi thanh toán séc được các ngân hàng tại Việt Nam quy định rất hạn chế, thường là cùng tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, nếu khác thì phải cùng địa bàn và có thanh toán bù trừ hàng ngày để giao nhận chứng từ với nhau.2: Quy trình thanh toán séc Bước 1: Người bán giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho người mua 13 - Bước 2: Người mua sẽ ký phát hành và giao séc cho người bán.
- Bước 3: Người bán đem séc tới ngân hàng phục vụ mình để yêu cầu thu hộ tiền. - Bước 4: Ngân hàng sẽ kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp, điều kiện thanh toán, nếu chấp nhận sẽ chuyển chứng từ sang ngân hàng nơi người mua phát hành séc để yêu cầu trả tiền.