mở đầu và cũng là khâu kết thúc của quá trình tái sản xuất xã hội. Các phương thức thanh toán qua Ngân hàng: có 2 phương thức - Một là Thanh toán bằng tiền mặt. Thanh toán bằng tiền mặt là việc chi trả trực tiếp bằng tiền mặt trong các quan hệ thanh toán thu chi giữa nhân dân với nhau, giữa các xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước với nhân dân. 8 - Hai là TTKDTM hay còn gọi là thanh toán qua ngân hàng.
TTKDTM là các quá trình tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán không trực tiếp bằng tiền mặt mà thực hiện bằng cách trích chuyển trên các tài khoản ở Ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc bù trừ lẫn nhau giữa những người phải thanh toán và những người thụ hưởng. TTKDTM bao gồm có 4 bên: Bên mua hàng hay nhận dịch vụ cung ứng Ngân hàng phục vụ bên mua, tức là Ngân hàng nơi đơn vị mua mở tài khoản giao dịch Bên bán, tức là bên cung ứng dịch vụ và hàng hóa Ngân hàng phục vụ bên bán, tức là ngân hàng nơi đơn vị bán mở tài khoản giao dịch b) Phân biệt TTKDTM và thanh toán bằng TM Thanh toán tiền tệ trong nền kinh tế hàng hoá được thực hiện dưới 2 hình thức: Thanh toán tiền mặt và TTKDTM. Tiền mặt tồn tại dưới dạng vật chất, có kích thước, màu sắc, tên gọi cụ thế, do Ngân hàng trung ương phát hành. Tiền chuyển khoản tồn tại dưới dạng phi vật chất, do các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng tạo ra.
Thanh toán tiền mặt được thực hiện bởi dấu hiệu tiền tệ, ở đây tiền mặt vận động trong lưu thông, thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán. Còn trong thanh toán không dùng tiền mặt, tiền chỉ chấp hành một chức năng: Phương tiện thanh toán. Trong thanh toán bằng tiền mặt, sự vận động của hàng hóa gắn liền với sự vận động của tiền tệ, còn thanh toán không dùng tiền mặt, sự vận động của hàng hóa độc lập với sự vận động của tiền tệ cả về thời gian lẫn không gian và không có sự ăn khớp nhau. Trong thanh toán không dùng tiền mặt, vật trung gian trao đổi không xuất hiện như trong hình thức thanh toán dùng tiền mặt theo kiểu H-T-H mà chỉ xuất hiện dưới dạng tiền kế toán hay tiền ghi sổ và được ghi chép trên các chứng từ sổ sách kế toán.
9 Thanh toán bằng tiền mặt, chủ yếu phục vụ cho các mối quan hệ kinh tế giữa các tầng lớp nhân dân, giữa Nhà nước, các xí nghiệp, tổ chức kinh tế với nhân dân lao động. Chẳng hạn việc trả lương cho công nhân viên, xã viên, người lao động được thực hiện bằng tiền mặt, nhân dân lao động dùng tiền của mình để mua hàng hoá, trả công dịch vụ cho các doanh nghiệp đã cung ứng. Các mối quan hệ kinh tế giữa các cơ quan, xí nghiệp, tổ chức kinh tế thì thanh toán không dùng tiền mặt là chủ yếu – chẳng hạn Công ty A trả tiền mua hàng cho xí nghiệp B bằng Séc, Công ty C nộp cho Nhà nước bằng Uỷ nhiệm chi,… c) Vai trò của NHTM trong TTKDTM Sự ra đời của hình thức thanh toán không dùng tiền mặt gắn liền với sự ra đời của đồng tiền ghi sổ và sự phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Thực tiễn từ các nước có nền kinh tế phát triển cho thấy một nền kinh tế không thể phát triển mạnh nếu hệ thống ngân hàng của nó không phát triển.
Sự lớn mạnh của các NHTM là điều kiện cần để một nền kinh tế có thể phát triển một cách ổn định và bền vững vì một trong những chức năng của NHTM đó là chức năng trung gian thanh toán, chức năng này được thể hiện thông qua công tác TTKDTM của các ngân hàng, sự tồn tại và lớn mạnh của hệ thống này đã tạo điều kiện cho cá nhân và các tổ chức kinh tế mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng và thực hiện việc thanh toán thông qua việc chuyển khoản trong hệ thống ngân hàng. Trong xu thế phát triển kinh tế của đất nước và quá trình hội nhập với thế giới, ngành ngân hàng đóng góp một vai trò hết sức to lớn, một trong các đóng góp quan trọng đó phải kể đến vai trò là trung tâm thanh toán của nền kinh tế vì ngân hàng vừa là người tổ chức vừa là người thực hiện các khoản thanh toán. Chỉ có ngân hàng, người quản lý tài khoản tiền gửi của các khách hàng mới được quyền trích chuyển những tài khoản này theo các nguyên tắc chuyên môn đặc thù như là một nghiệp vụ riêng của mình và với nghiệp vụ này, ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán đối với các khách hàng của mình.Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Theo nghị định 64/CP của chính phủ và quyết định 226/2002/QĐ-NHNN của thống đốc NHNN thì có 5 hình thức thanh toán được áp dụng trong thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ là: + Hình thức thanh toán bằng séc. + Hình thức thanh toán bằng uỷ nhiệm chi - Lệnh chi.
+ Hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu - Nhờ thu. + Hình thức thanh toán thư tín dụng. + Hình thức thanh toán thẻ Ngân hàng. Mỗi hình thức có nội dung kinh tế và cách thức thanh toán khác nhau 1.Các hình thức thanh toán nội địa - Ủy thác thu.
Uỷ nhiệm thu hoặc nhờ thu là phương thức thanh toán mà người thụ hưởng lập lệnh thanh toán theo mẫu do tổ chức cung ứng DVTT quy định, gửi cho tổ chức cung ứng DVTT thu hộ mình một số tiền nhất định. Thanh toán ủy nhiệm thu được áp dụng trong giao dịch thanh toán giữa những người sử dụng dịch vụ thanh toán có mở tài khoản nội bộ tổ chức cung ứng thanh toán hoặc giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trên cơ sở có thỏa thuận hoặc hợp đồng về các điều kiện thu hộ giữa bên trả tiền và bên thụ hưởng. UNT được sử dụng rộng rãi trong việc thanh toán các hóa đơn định kì cho người cung ứng dịch vụ công cộng như điện, nước, điện thoại…bởi nó được thường được dùng cho các giao dịch thanh toán có giá trị nhỏ nên UNT chiếm tỷ trọng không đáng kể trong tổng các giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt. Điều kiện, thủ tục thanh toán, thời hạn thực hiện nhờ thu hoặc UNT do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thỏa thuận với người sử dụng thanh toán phù hợp với qui định của NHNN.
Trong thời gian không quá 1 ngày làm việc kể từ thời điểm nhận 11 Sơ đồ qui trình thanh toán UNT: Sơ đồ 1.1:Trường hợp khách hàng mở cùng một hệ thống cung ứng dịch vụ thanh toán (1) Giao hàng Người trả tiền Người thụ hưởng (2) (3a) (3b) Ngân hàng (1) Người thụ hưởng giao hàng cho người trả tiền hoặc đã hoàn thành cung ứng dịch vụ (2) Người thụ hưởng lập 4 liên UNT kèm theo chứng từ giao hàng, hoặc cung ứng dịch vụ nộp vào NH nhờ thu hộ (3a) NH kiểm tra chứng từ và các căn cứ ghi Nợ TK tiền gửi và báo Nợ cho người trả tiền (3b) NH ghi Có và báo Có cho người thụ hưởng Sơ đồ 1.2:Trường hợp khách hàng mở TK thanh toán không cùng một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (1) Giao hàng Người thụ hưởng Người trả tiền (4) (6) (2) (3) NH phục vụ người NH phục vụ thụ hưởng người trả tiền (5) (1) Người thụ hưởng giao hàng hoặc hoàn thành cung ứng dịch vụ 12 (2) Người thụ hưởng lập UNT kèm theo hóa đơn, chứng từ gửi NH phục vụ mình nhờ thu hộ (3) NH phục vụ người thụ hưởng kiểm tra chứng từ, ghi ngày nhận chứng từ, ký tên, đóng trên UNT và ghi bộ chứng từ cho NH phục vụ người trả tiền (4) NH phục vụ người trả tiền kiểm tra các yếu tố và điều kiện, ghi Nợ tài khoản tiền gửi thanh toán và báo Nợ cho người trả tiền (5) NH phục vụ người trả tiền chuyển tiền đã thu tới NH phục vụ bên thụ hưởng (6) NH phục vụ người thụ hưởng ghi Có tài khoản tiền gửi thanh toán và báo Có cho người thụ hưởng - Thư tín dụng. Thư tín dụng là hình thức thanh toán theo sự thỏa thuận giữa hai bên bán và mua trong điều kiện bên bán đòi hỏi bên mua phải có đủ tiền để chi trả phù hợp với giá trị hàng hóa bên bán đã giao theo hợp đồng hay đơn đặt hàng đã ký. So với các chứng từ thanh toán khác như séc, UNC, UNT,… các điều kiện ghi trên thư tín dụng rất chặt chẽ, phản ánh những cam kết thanh toán trong hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng đã ký. Phạm vi áp dụng : thư tín dụng dùng để thanh toán giữa các khách hàng có tài khoản ở hai ngân hàng khác nhau, có thể cùng hoặc khác hệ thống ( có trung tâm thanh toán bù trừ ) Mỗi thư tín dụng chỉ dùng thanh toán cho một người thụ hưởng.
Thời hạn hiệu lực của một thư tín dụng là ba tháng .Mức tiền tối thiểu là 10 triệu đồng Sơ đồ 1. Quy trình thanh toán L/C Người trả tiền Người thụ hưởng 4 1 2 3 5 6 2’ Ngân hàng mở thư tín dụng Ngân hàng phục vụ người thụ 7 hưởng 13 1. Người trả tiền lập 5 liên giấy mở thư tín dụng yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản tiền gửi ( hoặc vay ngân hàng ) một số tiền bằng tổng giá trị hàng hóa , dịch vụ đặt mua để lưu ký vào một tài khoản riêng gọi là tài khoản “ đảm bảo thanh toán thư tín dụng “ 2. Ngân hàng phục vụ bên trả tiền mở thư tín dụng cho người trả tiền và chuyển ngay hai liên thư tín dụng cho ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để báo cho người thụ hưởng biết.
Khi nhận được hai liên giấy mở thư tín dụng do ngân hàng phục vụ bên trả tiền gửi đến, ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng tiền hành kiểm tra thủ tục mở thư tín dụng như : ký hiệu mật, chữ ký của ngân hàng mở thư tín dụng. Sau khi ghi ngày nhận, ký tên, đóng dấu đơn vị lên các liên giấy mở thư tín dụng sẽ gửi 1 liên cho bên thụ hưởng để làm căn cứ giao hàng ( còn 1 liên lưu lại và mở sổ theo dõi thư tín dụng đến ) 4.