Chương 1. Những vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế. Thực trạng mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Yên Bái. Giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Yên Bái.
4 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ 1. Sự hình thành và phát triển của thanh toán quốc tế Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Từ những hình thức sơ khai đầu tiên - ngân hàng của các thợ vàng hay ngân hàng của những kẻ cho vay nặng lãi thì cho đến ngày nay, ngân hàng đã phát triển, đa dạng hóa hình thức ngân hàng cũng như các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.
Đầu tiên có thể nhắc đến ngân hàng là tổ chức thu hút tiền tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết các nền kinh tế. Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trò người thủ quỹ của toàn xã hội. Thu nhập từ ngân hàng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình.
Những thông tin kinh tế liên quan đến lãi suất tiền gửi ngân hàng được mọi thành viên trong nền kinh tế theo dõi, làm căn cứ để đưa ra các quyết định kinh doanh của mình. Bên cạnh hoạt động tiền gửi, ngân hàng còn cho vay chủ yếu đối với doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và Nhà nước. Đối với doanh nghiệp, ngân hàng cung cấp tín dụng để phục vụ cho việc xây dựng nhà máy, mua sắm máy móc, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh…Đối với cá nhân, hộ gia đình, ngân hàng cấp vốn để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, mua sắm,…Đối với Nhà nước, các khoản tín dụng của ngân hàng thông qua mua các chứng khoán Chính phủ là nguồn tài chính quan trọng để đầu tư phát triển. Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cơ bản, có ý nghĩa hết sức to lớn, đem lại nguồn thu nhập chính cho ngân hàng.
Hơn nữa, nghiệp vụ tín dụng còn có ý nghĩa cung cấp vốn cho nền kinh tế, thúc đẩy phát triển, mở rộng kinh doanh. Ngoài ra, ngân hàng hiện nay còn mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản, môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ môi giới khác. 5 Ngân hàng được hiểu là tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Theo Luật Các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Có thể nói, ngân hàng ra đời, phát triển, cung cấp các dịch vụ thanh toán và vốn của nền kinh tế. Tuy nhiên, nhu cầu của con người ngày càng cao, nền kinh tế trong nước đến một giai đoạn nhất định sẽ không đáp ứng đủ do những hạn chế về điều kiện tự nhiên, địa lý, trình độ phát triển của quốc gia đó. Các quốc gia trở nên phụ thuộc lẫn nhau về rất nhiều loại hàng hóa cần thiết cho sản xuất và tiêu dùng. Kết quả là, một nước sẽ nhập khẩu những hàng hóa với giá rẻ, đồng thời xuất khẩu những hàng hóa có ưu thế về năng suất lao động, nhằm tận dụng những lợi thế so sánh trong ngoại thương.
Sự di chuyển hàng hóa giữa các nước tạo nên hoạt động xuất nhập khẩu của một quốc gia, hình thành nên thương mại quốc tế. Tuy nhiên, thương mại quốc tế có sự khác biệt với thương mại nội địa. Đó là các chủ thể trong ngoại thương khác nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán, nguồn luật điều chỉnh, đồng tiền thanh toán và có khoảng cách địa lý rất xa nên không phải lúc nào cũng có thể gặp gỡ, thanh toán trực tiếp cho nhau. Vì vậy, môi trường ngoại thương tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.
Để hạn chế rủi ro, việc thanh toán thường phải thông qua hoạt động ngân hàng thương mại với mạng lưới chi nhánh và hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp toàn cầu. Trước nhu cầu đó mà hình thành nên nghiệp vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng. Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.[2,294] 6 Từ khái niệm trên cho thấy, thanh toán quốc tế phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế. Tuy nhiên, trên thực tế, giữa hai lĩnh vực hoạt động này thường giao thoa với nhau, không có một gianh giới rõ rệt.
Thanh toán quốc tế được chia ra thành thanh toán trong ngoại thương và thanh toán phi ngoại thương. Thanh toán quốc tế trong ngoại thương là việc thanh toán trên cơ sở hàng hóa xuất nhập khẩu và các dịch vụ thương mại cung ứng cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế. Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thương. Thanh toán phi ngoại thương là việc thực hiện thanh toán không liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu, cũng như cung ứng lao vụ cho nước ngoài.
Đó là việc chi trả các chi phí của các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, các chi phí đi lại ăn ở của các đoàn khách Nhà nước, tổ chức và cá nhân, các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của cá nhân nước ngoài cho cá nhân trong nước, các nguồn trợ cấp của một tổ chức từ thiện nước ngoài cho tổ chức, đoàn thể trong nước,… Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa các quốc gia như ngoại giao, chính trị, văn hóa, kinh tế, tài trợ, hợp tác khoa học kỹ thuật,…thì kinh tế là mối quan hệ chủ yếu. Thanh toán quốc tế trong ngoại thương giữ vị trí chủ đạo. Do đó, khi nói đến thanh toán quốc tế mà không nói rõ trong lĩnh vực nào thì ta tự hiểu là thanh toán trong ngoại thương. Vai trò, vị trí của thanh toán quốc tế trong hoạt động ngân hàng Cùng với sự phát triển của ngoại thương, thanh toán quốc tế ngày càng phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong hoạt động ngân hàng.
Thanh toán quốc tế gắn liền với hoạt động của hệ thống ngân hàng nội địa với các ngân hàng nước ngoài, với các tổ chức tài chính quốc tế. Qua đó, giúp cho hệ thống ngân hàng của những nước chậm hoặc đang phát triển tiếp cận được hệ thống giao dịch thanh toán hiện đại, đồng thời củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác giữa các ngân hàng nước này với các ngân hàng nước khác. 7 Trong thanh toán quốc tế, ngân hàng đóng vai trò trung gian thanh toán giúp cho quá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng, an toàn, tiện lợi và giảm bớt chi phí thanh toán thay vì thanh toán bằng tiền mặt. Qua đó, tổ chức ngân hàng được hưởng lợi từ các khoản thu phí dịch vụ ngân hàng, tăng thêm nguồn vốn của mình do khách hàng mở tài khoản giao dịch, ký quỹ tại ngân hàng, gửi tiền tiết kiệm…Như vậy, thanh toán quốc tế sẽ tạo điều kiện để nâng cao nghiệp vụ và mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao uy tín của ngân hàng trên trường quốc tế.
Các phƣơng thức thanh toán quốc tế Phương thức TTQT trong ngoại thương là toàn bộ quá trình, điều kiện, quy định để người mua trả tiền và nhận hàng, còn người bán thì giao hàng và nhận tiền theo hợp đồng ngoại thương thông qua hệ thống ngân hàng phục vụ ở các nước khác nhau. Hiện nay, các điều kiện quy định các bên giao nhận hàng hóa và chi trả tiền là rất đa dạng. Do đó, trên thế giới tồn tại nhiều phương thức thanh toán quốc tế khác nhau như: ứng trước, ghi sổ, chuyển tiền, nhờ thu và tín dụng chứng từ, phương thức giao chứng từ nhận tiền ngay CAD, phương thức ủy thác mua hàng, phương thức bảo lãnh và tín dụng dự phòng,…Mỗi phương thức đều có ưu điểm và nhược điểm nhất định, thể hiện thành mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu. Việc lựa chọn phương thức thanh toán thích hợp phải được hai bên tham gia bàn bạc, thống nhất và ghi vào hợp đồng ngoại thương.
Hiện nay có ba phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu được sử dụng rộng rãi nhất, đó là chuyển tiền, nhờ thu và tín dụng chứng từ. Còn các phương thức khác ít được sử dụng hơn và thường được sử dụng kết hợp với các phương thức chính để tăng độ an toàn, giảm thiểu rủi ro cho nhà xuất khẩu và nhập khẩu. Phương thức chuyển tiền (Remittance) Chuyển tiển là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng (người chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho 8 một người khác (người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong thời gian nhất định. [2,331] a) Các bên tham gia - Người yêu cầu chuyển tiền (Applicant): là người yêu cầu ngân hàng thay mình chuyển tiền ra nước ngoài.
- Người hưởng lợi (Beneficiary): do người yêu cầu chuyển tiền chỉ định, được nhận số tiền chuyển tới thông qua ngân hàng. - Ngân hàng chuyển tiền (Remitting bank): là ngân hàng phục vụ người yêu cầu chuyển tiền. - Ngân hàng trả tiền (Paying bank): là NH trả tiền cho người hưởng lợi. b) Quy trình Ngân hàng nhập khẩu (4) Ngân hàng xuất khẩu (5) (3) (2) Nhà nhập khẩu (1) Nhà xuất khẩu Bước (1) : Người xuất khẩu (người hưởng lợi) thực hiện nghĩa vụ quy định trong hợp đồng ngoại thương.
Bước (2): Người nhập khẩu viết lệnh chuyển tiền, ủy nhiệm chi cùng với các chứng từ cần thiết gửi ngân hàng phục vụ mình. Bước (3): Sau khi kiểm tra chứng từ và các điều kiện chuyển tiền theo quy định, nếu thấy hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, ngân hàng thực hiện trích tài khoản để chuyển tiền và gửi giấy báo nợ cho người nhập khẩu.