Tổng quan nghiên cứu

Phát triển du lịch bền vững đóng vai trò chiến lược trong cơ cấu kinh tế của các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Trong giai đoạn 2008 - 2012, du lịch tỉnh Bến Tre ghi nhận mức tăng trưởng tích cực từ 610.505 lượt khách năm 2008 lên 873.376 lượt khách năm 2012, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 13,34%/năm. Doanh thu toàn ngành du lịch tăng tương ứng từ 95,93 tỷ đồng lên 171,40 tỷ đồng, đạt mức tăng trưởng bình quân 15,81%/năm. Mặc dù sở hữu 65 km đường bờ biển cùng hệ thống tài nguyên sinh thái miệt vườn đặc sắc và nhiều di tích lịch sử cấp quốc gia, ngành du lịch Bến Tre vẫn đối mặt với nhiều điểm nghẽn nội tại nghiêm trọng.

Thời gian lưu trú bình quân của du khách chỉ đạt 1,02 ngày và có xu hướng suy giảm xuống 0,93 ngày vào năm 2012. Mức chi tiêu bình quân của du khách chỉ đạt 9,27 USD/ngày (tương đương 193.828 VNĐ/ngày), dẫn đến tỷ lệ đóng góp của ngành du lịch vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) của tỉnh chỉ dao động khiêm tốn từ 1,4% đến 2,5%. Vấn đề cốt lõi bắt nguồn từ việc thiếu vắng một chiến lược tiếp thị đồng bộ, hoạt động xúc tiến còn manh mún và sản phẩm du lịch chưa tạo được sự khác biệt cạnh tranh.

Mục tiêu chính của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về marketing du lịch địa phương, phân tích thực trạng hoạt động marketing của ngành du lịch Bến Tre giai đoạn 2008 - 2012, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp Marketing Mix 7P khả thi đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở khoa học để nâng cao tỷ trọng đóng góp của du lịch vào GDP tỉnh, kéo dài thời gian lưu trú lên trên 1,5 ngày và thúc đẩy mức chi tiêu của du khách.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng mô hình Marketing dịch vụ mở rộng (Marketing Mix 7P) bao gồm Sản phẩm (Product), Giá cả (Price), Phân phối (Place), Chiêu thị (Promotion), Con người (People), Quy trình (Process) và Minh chứng vật chất (Physical evidence) theo quan điểm của Hoffman và Bateson (1997). Mô hình 7P giải quyết toàn diện các đặc thù của sản phẩm du lịch như tính vô hình, tính không thể tách rời giữa sản xuất và tiêu dùng, tính không đồng nhất và tính không thể lưu trữ.

Bên cạnh đó, luận văn kết hợp lý thuyết Marketing điểm đến du lịch (Destination Marketing) theo Goeldner và cộng sự (2000) cùng nghiên cứu của Mules và Huybers (2005), xem điểm đến như một thương hiệu tổng thể cần được định vị và quản trị trải nghiệm. Khái niệm sản phẩm du lịch được chuẩn hóa theo khoản 10 Điều 4 Luật Du lịch số 44/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005, khẳng định sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của du khách trong suốt chuyến đi. Luận văn cũng kế thừa lý thuyết phân khúc thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu của Morrison (2002), kết hợp mô hình liên kết cung - cầu du lịch của Robert Lanquar, Robert Hollier (2002) và Hà Nam Khánh Giao (2011).

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy khoa học. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre, các báo cáo tổng kết giai đoạn 2008 - 2012 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bến Tre cùng số liệu của Tổng cục Du lịch.

Nghiên cứu định lượng sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện với cỡ mẫu thực tế được thu thập trực tiếp tại các điểm du lịch trọng điểm:

  • Mẫu khách du lịch nội địa: Phát ra 160 bảng câu hỏi, thu về 140 bảng hợp lệ đạt tỷ lệ thành công 87,50%.
  • Mẫu khách du lịch quốc tế: Phát ra 120 bảng câu hỏi, thu về 100 bảng hợp lệ đạt tỷ lệ thành công 83,33%.
  • Mẫu khảo sát bổ trợ: Tiến hành lấy ý kiến của 13 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành và 15 chuyên gia tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bến Tre.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích tần số và so sánh chéo trên phần mềm SPSS 16.0 là nhằm lượng hóa chính xác mức độ thỏa mãn của du khách đối với từng thành tố marketing, từ đó tạo tiền đề xây dựng lộ trình giải pháp thực thi từ năm 2014 đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng khách du lịch tăng trưởng nhưng cơ cấu nguồn khách mất cân đối nghiêm trọng. Tổng lượt khách đến Bến Tre tăng từ 610.505 lượt (năm 2008) lên 873.376 lượt (năm 2012), đạt tốc độ tăng bình quân 13,34%/năm. Tuy nhiên, lượng khách quốc tế chiếm tỷ trọng rất thấp, bình quân dưới 11,42% tổng lượng khách. Mặc dù lượng khách quốc tế tăng trưởng bình quân 18,60%/năm (từ 53.107 lượt lên 111.851 lượt), tỷ trọng khách quốc tế đến Bến Tre so với cả nước năm 2012 chỉ đạt 1,63%, thấp hơn rất nhiều so với Tiền Giang (150.649 lượt) và Cần Thơ (561.510 lượt, gấp 5,02 lần Bến Tre).

Thứ hai, thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách sụt giảm. Thời gian lưu trú bình quân cả giai đoạn chỉ đạt 1,02 ngày; trong đó khách quốc tế năm 2012 giảm xuống chỉ còn đúng 1,0 ngày và khách nội địa duy trì ở mức 1,0 ngày. Chi tiêu bình quân/ngày của du khách năm 2012 chỉ đạt 9,27 USD (193.828 VNĐ), giảm so với mức 9,30 USD năm 2008. Sự gia tăng doanh thu toàn ngành (từ 95,93 tỷ đồng lên 171,40 tỷ đồng) phần lớn do tăng số lượng lượt khách thuần túy chứ không đến từ việc gia tăng giá trị chi tiêu trên mỗi lượt khách.

Thứ ba, cơ sở hạ tầng du lịch và kênh phân phối còn bộc lộ nhiều hạn chế. Tính đến ngày 31/12/2012, toàn tỉnh có 44 cơ sở lưu trú với 895 phòng, nhưng mới có 28 cơ sở được công nhận đạt chuẩn tối thiểu và chỉ có 2 khách sạn 3 sao. Phương thức di chuyển chủ yếu là đường bộ, chiếm 98,7% khách nội địa và 97,1% khách quốc tế, trong khi các tuyến đường nhánh vào điểm du lịch còn hẹp, cản trở xe 45 chỗ tiếp cận. Toàn tỉnh chỉ có 9 doanh nghiệp lữ hành với quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu và phụ thuộc nguồn khách từ các công ty lữ hành tại TP. Hồ Chí Minh.

Thứ tư, nhận thức hình ảnh và lợi thế cạnh tranh của điểm đến có sự phân hóa. Có 100% chuyên gia và doanh nghiệp đánh giá giá cả là lợi thế cạnh tranh cao nhất của Bến Tre, tiếp theo là di tích lịch sử văn hóa (84%) và ẩm thực (78%). Về mặt nhận diện, 28% khách nội địa hình dung Bến Tre qua di tích lịch sử, 25% qua trái cây miệt vườn; trong khi 36% khách quốc tế chọn Bến Tre đơn thuần vì lý do tiện đường di chuyển sang các địa phương khác.

Thảo luận kết quả

Các số liệu thực nghiệm cho thấy bức tranh phân hóa rõ rệt, có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cột thể hiện tốc độ tăng trưởng khách du lịch (13,34%) so với tăng trưởng doanh thu (15,81%), kết hợp bảng ma trận SWOT đánh giá năng lực cạnh tranh địa phương.

Nguyên nhân sâu xa khiến thời gian lưu trú ngắn và mức chi tiêu thấp là sự thiếu vắng các dịch vụ vui chơi giải trí và hoạt động kinh tế ban đêm. Do Bến Tre chỉ cách TP. Hồ Chí Minh khoảng 86 km, hạ tầng cầu Rạch Miễu và Hàm Luông hoàn thành đã tạo thuận lợi cho giao thông nhưng lại khiến các công ty lữ hành dễ dàng khai thác tour đi về trong ngày. So sánh với Cần Thơ hay Tiền Giang, Bến Tre có sản phẩm sinh thái tương đồng nhưng dịch vụ bổ trợ còn nghèo nàn hơn.

Bên cạnh đó, vấn đề vệ sinh môi trường tại các khu du lịch ven biển và làng nghề chưa được xử lý triệt để; có tới 70% chuyên gia và 75,8% doanh nghiệp được khảo sát kiến nghị cần phải sửa đổi, nâng cấp công tác quản lý môi trường cảnh quan. Điều này khẳng định Bến Tre cần chuyển dịch trọng tâm marketing từ việc thu hút số lượng sang nâng cao chất lượng trải nghiệm và kéo dài thời gian lưu trú.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích mô hình 7P, luận văn đề xuất hệ thống giải pháp marketing đồng bộ nhằm phát triển du lịch Bến Tre đến năm 2020:

  • Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm (Product & Physical evidence): Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bến Tre chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp hoàn thiện 3 không gian du lịch tại Cù lao An Hóa, Cù lao Bảo và Cù lao Minh. Khai thác chuyên sâu tour sinh thái miệt vườn tại 8 xã ven sông huyện Châu Thành, làng hoa kiểng Chợ Lách kết hợp du lịch lịch sử - về nguồn tại Khu di tích Đồng Khởi và Lăng Mộ Nguyễn Đình Chiểu. Thiết lập target metric kéo dài thời gian lưu trú bình quân từ 1,02 ngày lên 1,5 - 2,0 ngày trong giai đoạn 2014 - 2017.
  • Tối ưu hóa chính sách giá và mở rộng mạng lưới phân phối (Price & Place): Các doanh nghiệp lữ hành và khách sạn áp dụng chính sách giá linh hoạt theo mùa vụ, giảm giá kích cầu vào mùa thấp điểm; chủ động liên kết phân phối tour với hơn 50 doanh nghiệp lữ hành lớn tại TP. Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Target metric đặt ra là nâng tỷ trọng khách quốc tế lưu trú qua đêm lên mức trên 25% trong giai đoạn 2014 - 2020.
  • Đẩy mạnh hoạt động chiêu thị và định vị thương hiệu (Promotion): Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh Bến Tre nâng cấp cổng thông tin điện tử, phát hành ấn phẩm du lịch đa ngữ "Welcome to Ben Tre", số hóa bản đồ du lịch và tham gia định kỳ các hội chợ du lịch quốc tế như ITE HCMC. Target metric là tăng ngân sách xúc tiến tối thiểu 20%/năm, hướng tới mục tiêu đón 200.000 lượt khách quốc tế vào năm 2020.
  • Chuẩn hóa nhân lực và tối ưu quy trình phục vụ (People & Process): UBND tỉnh phối hợp với các trường đào tạo nghề tổ chức tập huấn định kỳ, bảo đảm 100% hướng dẫn viên và nhân viên lễ tân đạt chứng chỉ nghiệp vụ du lịch, đồng thời nâng cao kỹ năng giao tiếp và ứng xử văn minh du lịch cho cộng đồng dân cư địa phương giai đoạn 2014 - 2018.
  • Tăng cường quản lý nhà nước và hạ tầng môi trường: Sở Giao thông Vận tải và Sở Kế hoạch và Đầu tư đẩy nhanh tiến độ nâng cấp các tuyến đường bộ cho xe 45 chỗ lưu thông thông suốt; bố trí 100% hệ thống thùng rác, nhà vệ sinh đạt chuẩn tại các điểm du lịch ven biển và cù lao trong giai đoạn 2014 - 2016.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu ứng dụng chuyên sâu, mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách du lịch: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bến Tre cùng Trung tâm Xúc tiến Du lịch có thể ứng dụng khung định hướng phát triển không gian và phân bổ ngân sách marketing để xây dựng đề án quy hoạch tổng thể du lịch tỉnh nhà.
  • Doanh nghiệp kinh doanh du lịch, lữ hành và cơ sở lưu trú: Các nhà quản trị lữ hành tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long có thể sử dụng dữ liệu thị hiếu từ 140 khách nội địa và 100 khách quốc tế để thiết kế tour tuyến mới, hoàn thiện bảng giá và nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Giảng viên và học viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị dịch vụ du lịch có thể sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, quy trình điều tra xã hội học và kỹ thuật phân tích số liệu Marketing Mix 7P qua SPSS 16.0.
  • Nhà đầu tư phát triển dự án du lịch: Các nhà đầu tư hạ tầng và dịch vụ nghỉ dưỡng có thêm góc nhìn phân tích toàn diện về khoảng trống thị trường lưu trú cao cấp (3 - 5 sao) và tiềm năng phát triển các khu vui chơi giải trí phức hợp tại Bến Tre.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao lượng khách đến Bến Tre tăng trưởng 13,34%/năm nhưng doanh thu du lịch chưa tạo được bước đột phá? Nguyên nhân cốt lõi do thời gian lưu trú của khách rất ngắn (bình quân 1,02 ngày) và mức chi tiêu/ngày thấp (9,27 USD năm 2012). Địa phương thiếu các dịch vụ giải trí về đêm, khu mua sắm cao cấp và cơ sở lưu trú đạt chuẩn, khiến doanh thu tăng trưởng chủ yếu dựa vào số lượng khách vãng lai thay vì giá trị gia tăng trên mỗi lượt khách.

Khung lý thuyết Marketing Mix 7P được ứng dụng như thế nào trong phân tích du lịch Bến Tre? Mô hình 7P tiếp cận toàn diện 7 thành tố: Sản phẩm miệt vườn - lịch sử, Giá cả cạnh tranh, Kênh Phân phối lữ hành liên vùng, Chiêu thị đa phương tiện, Đội ngũ Con người phục vụ, Quy trình cung ứng dịch vụ và Minh chứng vật chất hạ tầng. Khung lý thuyết này giúp chỉ rõ điểm nghẽn tại từng mắt xích vận hành của du lịch Bến Tre.

Đâu là lợi thế cạnh tranh lớn nhất của du lịch Bến Tre so với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long? Theo kết quả khảo sát, Bến Tre sở hữu 4 lợi thế vượt trội gồm: chính sách giá cả hấp dẫn (100% chuyên gia và doanh nghiệp đồng thuận), tài nguyên di tích lịch sử - văn hóa độc đáo như phong trào Đồng Khởi (84%), văn hóa ẩm thực xứ dừa phong phú (78%) và cảnh quan sinh thái 3 cù lao sông nước (59,2%).

Luận văn sử dụng phương pháp chọn mẫu và xử lý dữ liệu nào để bảo đảm tính khoa học? Nghiên cứu khảo sát 140 khách nội địa (tỷ lệ hợp lệ 87,50%), 100 khách quốc tế (83,33%), 15 chuyên gia Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng 13 doanh nghiệp du lịch. Dữ liệu được mã hóa và xử lý thống kê mô tả trên phần mềm SPSS 16.0, bảo đảm tính đại diện và phản ánh sát thực tế giai đoạn 2008 - 2012.

Giải pháp trọng tâm nào giúp Bến Tre kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch đến năm 2020? Giải pháp cốt lõi là phát triển các tổ hợp vui chơi giải trí ban đêm, nâng cấp 44 cơ sở lưu trú hiện có đạt chuẩn chất lượng cao, mở rộng hạ tầng giao thông cho xe 45 chỗ tiếp cận điểm đến và xây dựng các gói tour trải nghiệm 2 ngày 1 đêm kết nối cù lao sinh thái với các làng nghề truyền thống.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Minh Phúc đã đóng góp hệ thống luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn có giá trị cao cho sự phát triển của du lịch Bến Tre:

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý thuyết Marketing Mix 7P và Marketing điểm đến du lịch áp dụng đặc thù cho địa bàn cấp tỉnh.
  • Lượng hóa chính xác thực trạng du lịch Bến Tre giai đoạn 2008 - 2012 với 873.376 lượt khách và doanh thu 171,40 tỷ đồng thông qua phân tích dữ liệu SPSS 16.0.
  • Nhận diện rõ các nút thắt chiến lược: thời gian lưu trú ngắn (0,93 ngày năm 2012), chi tiêu bình quân thấp (9,27 USD/ngày) và hạ tầng lưu trú còn đơn điệu (chỉ 2 khách sạn 3 sao).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp marketing 7P gắn với phân vùng không gian 3 cù lao lớn, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2020.
  • Hoạch định lộ trình thực thi theo hai giai đoạn 2014 - 2017 và 2018 - 2020 với các chỉ tiêu định lượng rõ ràng cho từng cơ quan ban ngành.

Công trình nghiên cứu là cẩm nang thực tiễn giá trị dành cho các nhà quản lý và doanh nghiệp lữ hành. Hãy tham khảo và ứng dụng ngay các định hướng marketing trong luận văn này để xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh cho điểm đến Bến Tre.