Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰCTIỄN VỀ HỆ THỐNG LOGISTICS THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU 1. Cơ sở lý thuyết về hệ thống logistics thúc đẩy xuất khẩu 1. Khái niệm và phân loại về logistics 1. Khái niệm logistics Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng (CSCMP, 1991): “Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu suất và hiệu quả của dòng lưu chuyển và tồn trữ vật liệu, cùng những thông tin liên quan từ điểm khởi đầu của quá trình sản xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng nhằm mục đích thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng”.
Theo đó logistics gắn liền với toàn bộ quá trình cung ứng nguyên vật liệu đầu vào, sản xuất ra hàng hóa và đưa sản phẩm vào các kênh lưu thông, phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Tại Việt Nam, Luật Thương mại có quy định: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi mã ký hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Vai trò của logistics - Đối với nền kinh tế quốc dân: Đối với bất cứ nền kinh tế nào, việc lưu thông phân phối hàng hoá, trao đổi giao lưu thương mại giữa các vùng trong nước với nhau và với nước ngoài luôn là hoạt động thiết yếu. Nếu nó được thông suốt, có hiệu quả, thì sẽ góp phần to lớn làm cho các ngành sản xuất phát triển; còn nếu bị ngưng trệ thì sẽ tác động xấu đến toàn bộ sản xuất và đời sống.
Khi xem xét ở góc độ tổng thể, ta thấy logistics là mối liên kết kinh tế gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa. Hoạt động logistics không những làm cho quá trình lưu thông, phân phối được thông suốt, chuẩn xác và an toàn, mà còn giảm được chi phí vận tải. Nhờ đó hàng hoá được đưa đến thị trường một cách nhanh chóng, kịp thời. Người tiêu dùng có thể mua được hàng hoá một cách thuận tiện, linh hoạt, thỏa mãn nhu cầu của mình.
Như vậy, logistics là một chuỗi các hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hỗ trợ cho luồng chu chuyển của nhiều giao dịch kinh tế, phân phối hầu hết 8 các loại hàng hóa và dịch vụ. Do đó, nền kinh tế quốc dân chỉ có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi dây chuyền logistics hoạt động liên tục, nhịp nhàng - Đối với địa phương: Logistics sẽ giúp cho việc luân chuyển, giao thương hàng hóa được thuận lợi, làm tăng thêm giá trị sản phẩm và bình ổn được thị trường, nhất là đẩy mạnh được hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của địa phương góp phần phát triển kinh tế, ổn định được đời sống nhân dân. Mô hình và các thành phần của hệ thống logistics thúc đẩy xuất khẩu Hệ thống logistics được định nghĩa là một hệ thống gồm tổ chức và con người, phương tiện kỹ thuật cần thiết cho việc luân chuyển hàng hóa và thông tin đi kèm được tổ chức cụ thể và tích hợp trong một phạm vi nhất định (Jacyna, 2009). Hệ thống logistics ở cấp độ một quốc gia có thể được hiểu một cách đơn giản là bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến dòng dịch chuyển hàng hóa trong nền kinh tế của quốc gia đó, bao gồm lưu trữ, xếp dỡ, vận chuyển, các quy trình quản lý và truyền tải thông tin (Dimitrov, 1991).
Hệ thống logistics quốc gia được cấu thành từ 4 bộ phận: cơ sở hạ tầng, khuôn khổ thể chế pháp lý, các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics: (1) Cơ sở hạ tầng phục vụ logistics xuất khẩu: hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển, đường thủy nội địa kết nối tới những điểm trung chuyển hàng hóa qua biên giới. Ngoài hạ tầng phục vụ cho giao thông, hạ tầng cho xuất khẩu còn bao gồm những điểm trung chuyển, tập kết và lưu trữ hàng hóa trong quá trình chờ đợi chuyển đổi phương thức vận chuyển hoặc chờ đợi thực hiện các thủ tục quản lý nhà nước để xuất khẩu hàng hóa. (2) Khuôn khổ thể chế pháp lý: Đối với hoạt động xuất nhập khẩu, khuôn khổ thể chế pháp lý được phản ánh qua sự quản lý nhà nước đối với hoạt động này, ví dụ như các quy định rào cản thuế quan đối với từng loại mặt hàng, thủ tục khai báo và thông quan hàng hóa tại các cảng biển và cửa khẩu biên giới, những quy định về kiểm dịch, kiểm hóa hàng hóa, yêu cầu về việc đăng kí các giấy phép xuất nhập khẩu. (3) Doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics: Trong hệ thống logistics phục vụ cho xuất khẩu, các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics ở đây phải kể đến là các doanh nghiệp sản xuất có hàng hóa cần xuất đến các đối tác ở nước ngoài, các doanh nghiệp thương mại thu mua hàng hóa (nguyên vật liệu, thành phẩm, bán 9 thành phẩm) trong nước, bán lại cho các doanh nghiệp khác và được yêu cầu giao hàng đến những địa điểm ở nước ngoài.
(4) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics: Do xu hướng chuyên môn hóa, tập trung vào lợi thế cạnh tranh, nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cân nhắc giữa việc tự thực hiện chức năng này hay thuê ngoài. Khi thuê bên thứ ba cung cấp dịch vụ logistics, doanh nghiệp có thể tập trung vào năng lực cốt lõi, đồng thời chi phí được cắt giảm nhờ vào lợi thế kinh tế, nhờ quy mô trong một số khâu như vận chuyển hay dự trữ, tiết kiệm các khoản đầu tư tài sản, đồng thời chuyên môn nghiệp vụ của các doanh nghiệp dịch vụ sẽ nhuần nhuyễn và chuyên nghiệp hơn. Những hoạt động logistics và tác động thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Logistics thúc đẩy xuất khẩu là sự quản lý dòng hàng hóa quốc tế, các chứng từ và thủ tục thanh toán liên quan với mục đích cắt giảm chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến logistics thông quan hàng hóa các thủ tục và chứng từ. (GFPTT - Global Facilitation Partnership for Transport and Trade - Tổ chức hỗ trợ thương mại và vận tải toàn cầu) Logistics thúc đẩy xuất khẩu bao gồm các dịch vụ và quy trình liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa một cách an toàn và chắc chắn từ quốc gia này sang quốc gia khác.
Hàng hóa qua biên giới quốc gia phải trải qua nhiều quá trình, bao gồm ở việc đáp ứng các thủ tục hải quan và hành chính; tổ chức và quản lý hiệu quả hoạt động vận chuyển hàng hóa quốc tế; theo dõi và truy tìm kịp thời các lô hàng; đảm bảo chất lượng cao của cơ sở hạ tầng giao thông và công nghệ thông tin (Korinek và Sourdin, 2011). Phần lớn logistics thúc đẩy xuất khẩu ở nhiều quốc gia hầu hết được thực hiện bởi các doanh nghiệp tư nhân, với sự hỗ trợ về mặt thể chế và quy định khác nhau của chính phủ. Logistics nêu trên cũng có mối liên hệ với nhau và do đó chuỗi quy trình liên kết này liên quan đến việc di chuyển đầu vào cũng như thành phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng trong các nền kinh tế trong nước cũng như qua các biên giới khác nhau là một phần không thể thiếu trong việc tạo thuận lợi cho buôn bán quốc tế. Do đó logistics thúc đẩy xuất khẩu luôn gắn trực tiếp với các kết quả kinh tế quan trọng như mở rộng thương mại, đa dạng hóa hàng xuất khẩu và tăng trưởng nền kinh tế.
Cơ sở pháp lý về logistics và hệ thống logistics 1. Các cơ sở pháp lý của Chính phủ, Bộ ban ngành Để tạo điều kiện thuận lợi cho ngành logistics phát triển, hệ thống luật pháp Việt Nam liên quan tới logistics đã được hình thành và dần hoàn thiện. Một số văn bản quan trọng về chủ trương định hướng và chính sách phát triển logistics được ban hành như sau: - Luật Thương mại được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 lần đầu tiên đưa ra khái niệm về dịch vụ logistics. Theo Điều 233 Luật Thương mại 2005, “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
- Năm 2015, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số 1012/QĐ-TTg quy hoạch phát triển hệ thống trung tâm logistics trên địa bàn cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Các trung tâm logistics sẽ được phát triển theo hạng I cấp quốc gia và quốc tế, có vị trí và vai trò là trung tâm gốc; từ đó hình thành và phát triển theo hình rẻ quạt là các trung tâm logistics hạng II cấp vùng, tiểu vùng và hành lang kinh tế; và các trung tâm logistics chuyên dụng, trước mắt là các trung tâm logistics chuyên dụng hàng không gắn liền với các cảng hàng không, kết nối cùng với hệ thống các trung tâm logistics hạng I và hạng II để hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hoặc trung chuyển hàng hóa qua các loại hình vận tải đa phương thức, phục vụ cho đầu vào và đầu ra của sản xuất tại các khu công nghiệp, trung tâm công nghệ cao, vùng sản xuất tập trung quy mô lớn. - Năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 200/QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025. Kế hoạch hành động đặt ra 60 nhiệm vụ thuộc 6 nhóm gồm: (i) Hoàn thiện chính sách, pháp luật về dịch vụ logistics; (ii) Hoàn thiện kết cấu hạ tầng logistics; (iii) Nâng cao năng lực doanh nghiệp và chất lượng dịch vụ; (iv) Phát triển thị trường dịch vụ logistics; (v) Đào tạo, nâng cao nhận thức và chất lượng nguồn nhân lực; và (vi) Các nhiệm vụ khác.
- Nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 (thay thế Nghị định số 140/2007/NĐ-CP) quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics: mở rộng đối tượng áp dụng ra các doanh nghiệp logistics nước ngoài, quy định cụ thể 17 loại 11 hình dịch vụ logistics.