PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1. Lý luận Kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), việc cạnh tranh và hợp tác để phát triển kinh tế trở nên mạnh mẽ. Nhất là đến hết 2015, Việt Nam tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN thì nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng đóng vai trò quyết định phát triển đất nước cả về kinh tế và vị thế chính trị.
Vì vậy, đào tạo nguồn nhân lực vừa có trình độ chuyên môn cao, tay nghề thành thạo, ý thức trách nhiệm và tính kỷ luật tốt đòi hỏi phải có sự đầu tư, có kế hoạch trong công tác dạy nghề. Qua mỗi thời kỳ, vấn đề đào tạo kết hợp với thực tiễn, đào tạo theo nhu cầu xã hội đã được Đảng, Nhà nước quan tâm. Ban chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết 4 – Khóa VII về việc tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo và nêu định hướng: “Mở rộng giáo dục nghề nghiệp, từng bước hình thành nền giáo dục kỹ thuật trong xã hội…” và “Kết hợp tốt học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường với xã hội. áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề…”[10] Điều 3 Luật Giáo dục 2005 khẳng định nguyên lý giáo dục: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.[8] Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 định hướng: “Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội”.[2] Chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020 nêu quan điểm: “Đặc biệt, phải chuyển nhanh hệ thống đào tạo nhân lực sang hoạt động theo cơ chế đào tạo theo nhu cầu của xã hội và thị trường lao động, nhất là các ngành trọng điểm”.[12] 8 Luan van Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020 nêu quan điểm: “Phát triển dạy nghề là sự nghiệp và trách nhiệm của toàn xã hội; là một nội dung quan trọng của chiến lược, quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; đòi hỏi phải có sự tham gia của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương, các cơ sở dạy nghề, cơ sở sử dụng lao động và người lao động để thực hiện đào tạo nghề theo nhu cầu của thị trường lao động”.[11] Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, BCH Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29- NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH - NĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đưa ra quan điểm chỉ đạo: “…Học đi đôi với hành lý luận gắn với thực tiễn giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” và mục tiêu đối với giáo dục nghề nghiệp: “ Tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp.
Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế”.[9] Nghị quyết cũng đã đưa ra những giải pháp trọng tâm: “Nội dung giáo dục nghề nghiệp được xây dựng theo hướng tích hợp kiến thức, kỹ năng, tác phong làm việc chuyên nghiệp để hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học” và “Ðổi mới phương thức đánh giá và công nhận tốt nghiệp giáo dục nghề nghiệp trên cơ sở kiến thức, năng lực thực hành, ý thức kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp. Có cơ chế để tổ chức và cá nhân sử dụng lao động tham gia vào việc đánh giá chất lượng của cơ sở đào tạo”. [9] Từ những quan điểm của Đảng và Nhà nước để thấy rằng, một trong những yêu cầu để đảm bảo giữa đào tạo và sử dụng hiệu quả chính là liên kết đào tạo nghề giữa DN và NT để nguồn nhân lực thực sự đáp ứng với tiến trình phát triển sản xuất kinh doanh. Vì vậy, việc xây dựng mối quan hệ NT và DN đang được đặt ra trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH hiện nay, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao trong quá trình phát triển.
Thực tiễn Đồng Nai là cửa ngõ của trục động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: TP. Hồ Chí Minh - Đồng Nai – Bình Dương- Bà Rịa Vũng Tàu, giữ vai trò trọng yếu trong vùng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng, thu hút đông đảo DN trong và ngoài nước đến đầu tư sản xuất với nhiều ngành nghề đa dạng. Với sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp và dịch vụ, dẫn đến việc chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, do đó nhu cầu phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đồng Nai là rất cao. Tỉnh Đồng Nai cũng đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển mạng lưới đào tạo nghề trong địa bàn tỉnh.
Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ IX (2010-2015) đã đề ra mục tiêu: „„đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ”, tiếp tục đổi mới và phát triển toàn diện, mạnh mẽ giáo dục – đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Chương trình tổng thể đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển KT - XH tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 -2015 với 4 chương trình nhánh, trong đó Chương trình 1: Đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật của tỉnh đang hướng vào nhiệm vụ phải đào tạo được đội ngũ lao động có trình độ tay nghề, có phẩm chất đạo đức phục vụ sự phát triển KT - XH của tỉnh. Chương trình chỉ rõ đến năm 2015, lao động qua đào tạo nghề trên địa bàn phải đạt 50% và 1 trong những giải pháp trọng tâm là: “Phối hợp với các cơ sở sản xuất, DN xây dựng chính sách giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp, thông qua chương trình GV dạy nghề và HS thực tập sản xuất tại DN, giúp cho GV tiếp cận thiết bị công nghệ mới để thường xuyên đổi mới về nội dung và phương pháp, cập nhật kiến thức và kỹ năng, cải tiến chương trình đào tạo, xây dựng chương trình dạy nghề theo mô đun, đánh giá chất lượng đào tạo nghề” và “…đẩy mạnh liên kết giữa các cơ sở đào tạo với các DN để đảm bảo đầu ra cho HS cũng như đảm bảo chất lượng đào tạo theo nhu cầu thị trường sử dụng lao động”.[13] Quyết định số 3631/QĐ-UBND ngày 08/11/2013 của UBND Tỉnh Đồng Nai V/v Ban hành chương trình hành động thực hiện chiến lược phát triển dạy nghề Tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2011 – 2020 cũng đã đưa ra những giải pháp phát triển dạy nghề, 10 Luan van một trong những giải pháp quan trọng đó là “Gắn kết giữa dạy nghề với thị trường lao động và sự tham gia của doanh nghiệp”, theo đó phải“Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa dạy nghề với thị trường lao động…” và yêu cầu “Cơ sở dạy nghề phải có bộ phận theo dõi, thu thập thông tin về học sinh học nghề sau khi tốt nghiệp, tiếp nhận các thông tin từ phía doanh nghiệp, trên cơ sở đó có sự điều chỉnh để thích ứng với nhu cầu của doanh nghiệp”. Khu vực Long Thành-Nhơn Trạch nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có 60% khu công nghiệp của cả tỉnh Đồng Nai.
Vấn đề đặt ra cho khu vực trong quá trình phát triển là phải đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề, có trình độ kỹ thuật để cung cấp cho thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp, cũng đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả lao động, tạo lợi thế cạnh tranh trong thu hút đầu tư. Trường CĐN khu vực Long Thành – Nhơn Trạch là một trong những cơ sở đào tạo nghề đóng vai trò chủ chốt trong việc cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao về kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, góp phần tạo nguồn động lực thúc đẩy và phục vụ cho việc phát triển kinh tế của 15 khu công nghiệp tại Long Thành-Nhơn Trạch và cả khu vực trong thời gian tới. Chính vì vậy, Trường đã luôn ý thức phải đảm bảo chất lượng đào tạo để đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Vì vậy, trong những năm qua, Nhà trường không ngừng nỗ lực, tăng cường các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu của DN.
Tuy nhiên, qua kết quả khảo sát ý kiến của 90 DN trên địa bàn về chất lượng đào tạo nghề ( Khảo sát riêng của Trường CĐN khu vực Long Thành – Nhơn Trạch năm 2011) thì 86,7% ý kiến cho rằng DN phải đào tạo thêm sau khi tuyển dụng và 61,6% ý kiến doanh nghiệp cho rằng các lao động được tuyển dụng có kỹ năng nghề chậm. Từ kết quả khảo sát để thấy rằng chất lượng đào tạo nghề tại Trường CĐN khu vực Long Thành – Nhơn Trạch nói riêng và các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn nói chung vẫn còn nhiều bất cập, còn tồn tại sự không phù hợp giữa các kỹ năng của sinh 11 Luan van viên tốt nghiệp các trường đào tạo nghề và những gì cần thiết trong thị trường lao động. Vấn đề liên kết giữa NT vàDN thời gian qua trên địa bàn Đồng Nai đã được quan tâm xây dựng nhưng chưa có giải pháp liên kết cụ thể để trở thành hệ thống, thành giải pháp trọng điểm để có thể áp dụng cụ thể vào một hay nhiều trường nghề. Xuất phát từ lý luận và nhu cầu thực tế cùng với mục tiêu và tầm nhìn của Nhà trường: “Trên 85% học sinh-sinh viên có việc làm đúng chuyên ngành sau khi tốt nghiệp” và “Trở thành trường dạy nghề trọng điểm Quốc gia, có khả năng đào tạo đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, có khả năng hội nhập.