Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ KIỂM SOÁT DÒNG VỐN.1 Khái niệm về đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI).1 Khái niệm về đầu tư: Có rất nhiều tác giả và tổ chức định nghĩa về đầu tư, trong phạm vi đề tài này chúng tôi đề cập một số định nghĩa như sau: Theo “Từ điển Quản lý Ngân hàng” [6] thì tuỳ theo quan điểm có các khái niệm như sau: Theo quan điểm kinh tế: đầu tư là tạo một vốn cố định tham gia vào hoạt động của xí nghiệp trong nhiều chu kỳ kinh doanh nối tiếp. Đây là vấn đề tích luỹ các yếu tố vật lý chủ yếu về sản xuất hay thương mại. Theo quan điểm tài chính: đầu tư là làm bất động một số vốn nhằm rút ra tiền lãi trong nhiều thời kỳ nối tiếp. Theo “Tài chính Doanh nghiệp hiện đại”: “Đầu tư chính là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở thời điểm hiện tại để đổi lấy (khả năng không chắc chắn) giá trị trong tương lai”[17 ].
Theo “Thẩm định dự án đầu tư”: “Đứng trên quan điểm của chủ đầu tư thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh, để từ đó thu được số vốn lớn hơn số đã bỏ ra, thông qua lợi nhuận. Còn nếu đứng trên quan điểm xã hội thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế - xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia”[ 20 ]. Đầu tư là chi một lượng giá trị làm một việc gì đó nhằm mục đích sinh lợi trong tương lai. Đầu tư chia làm hai giai đoạn: giai đoạn bỏ vốn đầu tư và giai đoạn thu lợi.
Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về đầu tư nhưng mục đích cuối cùng của đầu tư là hiệu quả của nó. Hiệu quả đầu tư được xem xét dưới hai khía cạnh: đó là hiệu quả kinh tế tài chính hay khả năng sinh lời của hoạt động đầu tư mang lại và hiệu quả về mặt xã hội như cung cấp việc làm, cải thiện điều kiện sống… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Đầu tư trực tiếp: Theo Luật đầu tư của Việt Nam có hiệu lực ngày 01 tháng 07 năm 2006 thì: “đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.” Còn đầu tư trực tiếp nước ngoài được Edward M. Graham định nghĩa: “đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi công dân của một nước (nước đầu tư) thụ đắc quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư). Như vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài đó là hình thức đầu tư trực tiếp và chủ đầu tư là công dân của một nước đem vốn và máy móc, thiết bị đi đầu tư vào phần còn lại của thế giới, chủ đầu tư nắm quyền kiểm soát hoạt động đầu tư.3 Đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Đầu tư gián tiếp: cũng theo Luật đầu tư của Việt Nam thì “Ðầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.” Theo “Điều tiết sự di chuyển của dòng vốn tư nhân gián tiếp nước ngoài ở một số nước đang phát triển” thì “Vốn tư nhân gián tiếp nước ngoài (FPI) là vốn tư nhân nước ngoài đầu tư vào các chứng khoán vốn hoặc các chứng khoán nợ (debt securities) của các nước đang phát triển” [ 11 ]. Chứng khoán vốn: là những giấy tờ có giá, lưu hành trên thị trường và chứng nhận quyền sở hữu tài sản của đối tượng nắm giữ giấy tờ đó đối với chủ thể phát hành (cổ phần, cổ phiếu). Chứng khoán nợ: Là những giấy tờ có giá, lưu hành trên thị trường, chứng nhận mối quan hệ chủ nợ của đối tượng nắm giữ giấy tờ đó đối với chủ thể phát hành. Loại chứng khoán này tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như: trái phiếu, giấy nợ; các công cụ thị trường tiền tệ (tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, chấp nhận ngân hàng…); các công cụ tài chính phái sinh (quyền chọn, hợp đồng tương lai, hoán đổi).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Trong phạm vi đề tài, các số liệu thu thập thực tế chủ yếu tập trung vào cổ phiếu niêm yết, chưa niêm yết và trái phiếu.2 Sự cần thiết và đặc trưng cơ bản của đầu tư nước ngoài 1.1 Sự cần thiết của đầu tư nước ngoài: Sự cần thiết của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm thỏa mãn được nhu cầu giữa một bên là nhà đầu tư và bên kia là nước tiếp nhận đầu tư. Đối với nhà đầu tư: Thông qua hình thức đầu tư này, nhà đầu tư đã giải quyết được một số vấn đề như sau: Thứ nhất, nhà đầu tư có thể duy trì và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nhà đầu tư sẽ khai thác kỹ thuật công nghệ của mình ở một thị trường mới đầy tiềm năng, nhu cầu về sản phẩm cao, giá chi phí đầu vào thấp…là những nhân tố để nhà đầu tư có thể mở rộng sản xuất và tìm kiếm lợi nhuận cao. Thứ hai, có thể tiếp cận và khai thác các nguồn lực dồi dào của nước tiếp nhận cũng như việc bành trướng và mở rộng thị trường.
Một khi nguồn lực cho sản xuất ở trong nước trở nên khan hiếm, làm gia tăng chi phí đầu vào và do đó làm giảm lợi nhuận của nhà đầu tư. Điều này thôi thúc nhà đầu tư tìm những khu vực mới với nguồn tài nguyên phong phú và giá nhân công rẻ hơn. Thêm vào đó, thị trường sản phẩm của nhà đầu tư ở trong nước trở nên bão hòa và khó cạnh tranh. Trong khi đó, thị trường ở nước tiếp nhận đầu tư vẫn còn bỏ ngỏ.
Nhà đầu tư dễ dàng chiếm lĩnh thị phần và mở rộng sản xuất kinh doanh. Thứ ba, nhà đầu tư có thể tranh thủ lợi dụng những ưu đãi trong chính sách thuế của chính phủ tiếp nhận đầu tư mà điều đó không có ở chính quốc. Vì muốn lôi kéo và hấp dẫn nhà đầu tư, mà nhiều nước đang phát triển và kém phát triển trải thảm và mời chào nhà đầu tư bằng biện pháp cắt giảm nhiều sắc thuế. Ví dụ Việt Nam đã áp dụng những chính sách ưu đãi về thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp cho những doanh nghiệp chế xuất của nước ngoài.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Đối với nước tiếp nhận đầu tư: thông qua hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, vấn đề thiếu vốn và hạn chế về khoa học kỹ thuật phần nào đã được giải quyết. Đa phần nguồn tài nguyên thiên nhiên của các nước tiếp nhận đầu tư tương đối phong phú và dồi dào nhưng khả năng khai thác của họ còn yếu hoặc không thể nên giải pháp liên doanh, liên kết với đối tác nước ngoài là khả thi và hiệu quả hơn cả. Tóm lại, trong chừng mực nào đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã mang lại lợi ích cho cả nước tiếp nhận đầu tư và chủ đầu tư và đó là điều tất yếu của tiến trình toàn cầu hóa. Sự cần thiết của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) Đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ góp phần bổ sung nguồn vốn thiếu hụt cho nước tiếp nhận đầu tư, thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn và làm thỏa mãn nhu cầu vốn cũng như nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận cao của bên tiếp nhận đầu tư và bên đi đầu tư.2 Đặc trưng đầu tư nước ngoài: Đặc trưng của đầu tư trực tiếp nước ngoài Đặc trưng của đầu tư trực tiếp nước ngoài là mang tính dài hạn, chủ đầu tư thường đầu tư vào những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi, có nhiều ưu đãi và thường ra sức khai thác lợi nhuận một cách tối đa có thể.
Đặc trưng của đầu tư gián tiếp nước ngoài Thứ nhất, là hình thức đầu tư mang tính thanh khoản cao. Do nhà đầu tư chỉ quan tâm đến lợi nhuận nhận được (với một mức rủi ro có thể chấp nhận được) mà không quan tâm và can thiệp đến hoạt động sản xuất của cơ sở, nên nhà đầu tư dễ dàng trong việc đầu tư và rút vốn. Tính thanh khoản cao đã làm cho hình thức đầu tư này mang tính ngắn hạn. Thứ hai, tính thanh khoản cao giúp cho nhà đầu tư nhanh chóng thay đổi và rút khỏi thị trường để tìm kiếm những thị trường mới với tỷ suất sinh lợi cao hơn và ít rủi ro hơn.
Do đó, hình thức đầu tư này thường bất ổn định và dễ bay hơi. Đặc trưng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 này một mặt nó tạo ra những cơ hội kinh doanh chênh lệch giá và đầu cơ cho nhà đầu tư. Mặt khác, nó cũng làm cho thị trường tài chính của nước tiếp nhận đầu tư dễ bị tổn thương một khi có những hiện tượng bất ổn xảy ra (sự biến động lớn của giá đầu vào, tình trạng suy thoái kinh tế, sự thay đổi chính sách không có lợi cho nhà đầu tư…). Ngoài ra, vốn FPI còn có những đặc trưng khác như tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và rất đa dạng (trái phiếu, cổ phiếu, giấy nợ thương mại, các sản phẩm phái sinh: quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn, tương lai, hoán đổi).3 Tác động của đầu tư nước ngoài 1.1 Tác động của dòng vốn FDI Nhiều nghiên cứu về tác động của dòng vốn FDI đã làm nảy sinh nhiều trường phái mà lập luận của họ nghiêng về ủng hộ hay chống đối dòng vốn FDI.
Trong phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ trình bày tóm lược những kết quả của những nghiên cứu trước đây về tác động của dòng vốn FDI như sau: 1.1 Tác động đến tăng trưởng kinh tế Có rất nhiều kinh tế gia nghiên cứu về sự tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế, họ sử dụng những mô hình hồi quy phức tạp với chuỗi dữ liệu trong thời gian dài và của nhiều nước khác nhau thì kết quả thu được trái ngược nhau. Một số nghiên cứu thì chỉ ra rằng có mối tương quan thuận giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế, trong khi đó một số nghiên cứu khác lại cho thấy không có mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế thậm chí là mối liên hệ nghịch.