phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được thiết kế bao gồm 3 chương, cụ thể như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát chất lượng kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm soát chất lượng số 1 tại Công ty TNHH Việt & Co Chƣơng 2: Thực trạng về hệ thống kiểm soát chất lượng kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm soát chất lượng số 1 tại Công ty TNHH Việt & Co Chƣơng 3: Giải pháp thực thi hệ thống kiểm soát chất lượng kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm soát chất lượng số 1 tại Công ty TNHH Việt & Co TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN THEO CHUẨN MỰC KIỂM SOÁT CHẤT LƢỢNG SỐ 1 TẠI CÔNG TY TNHH VIỆT & CO 1. Chất lƣợng kiểm toán 1. Chất lƣợng Chất lượng luôn là thách thức và là mối quan tâm hàng đầu mà bất kỳ tổ chức hay doanh nghiệp nào cũng đều đối mặt trong quá trình hoạt động của mình. Có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng như chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với các sự vật khác (Bùi Đức Tịnh, 2013).
Hay theo bài viết về chất lượng và đặc điểm của chất lượng đăng trên trang thông tin điện tử của Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam thì lại cho rằng chất lượng là mức độ phù hợp của sản phẩm hoặc dịch vụ thỏa mãn yêu cầu đề ra hoặc định trước của người mua… Ngoài ra, các tổ chức khác nhau còn đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng. Tuy nhiên các định nghĩa trên đều hướng đến điểm nổi bật cuối cùng mà cả nhà sản xuất và người tiêu dùng đều muốn đạt đến là sự thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng với các điều kiện nhất định. Kiểm toán Kiểm toán ra đời từ rất sớm. Tuy nhiên, hoạt động kiểm toán độc lập chính thức xuất hiện từ thế kỷ 19, cùng với sự hình thành và phát triển của các công ty cổ phần châu Âu, gắn liền sự tách biệt quyền lợi giữa người trực tiếp quản lý công ty với người tham gia góp vốn.
Chính bởi sự tách biệt này và việc nhiều công ty bị phá sản, cũng như sự lừa đảo từ phía các nhà quản lý, sự phức tạp của nghiệp vụ kế toán đã làm tăng rủi ro trong đầu tư. Điều này khiến các cổ đông, nhà đầu tư không thể tin tưởng hoàn toàn vào thông tin được cung cấp bởi chính những nhà quản lý hay kế toán của công ty. Bởi vậy, các cổ đông, nhà đầu tư muốn báo cáo tài chính phải TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 được kiểm tra bởi bên thứ ba độc lập, trung thực, có hiểu biết về báo cáo tài chính, đó là các công ty kiểm toán (Trần Khánh Lâm, 2011). Theo định nghĩa của Alvin A.Arens và James K.Loebbecke trích trong Giáo trình Kiểm toán (Bộ môn Kiểm toán, 2011) thì kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập thu thập và đánh giá bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể, nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập.
Tại Việt Nam, hoạt động kiểm toán ra đời và phát triển kể từ khi nền kinh tế nước ta chuyển từ chế độ kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường và đặc biệt sau khi Luật đầu tư được ban hành vào năm 1989 nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Vào tháng 5 năm 1991, hoạt động kiểm toán độc lập chính thức được ra đời và đánh dấu bằng sự thành lập của hai công ty kiểm toán đầu tiên trực thuộc Bộ Tài chính là công ty Kiểm toán Việt Nam và công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán. Sự ra đời của hai công ty kể trên đã tạo tiền đề cho sự ra đời của các công ty kiểm toán sau này bởi sự hoạt động tích cực và có hiệu quả cũng như đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của nền kinh tế trong thời kỳ đổi mới. Sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động kiểm toán tại Việt Nam trong thời gian này không chỉ nhờ nỗ lực không ngừng của các cá nhân và tổ chức trong nước, sự hỗ trợ tích cực từ Chính phủ mà còn nhờ sự giúp đỡ từ các tổ chức nghề nghiệp quốc tế, đặc biệt là sự tham gia của các công ty kiểm toán hàng đầu thế giới như Deloitte Touche Tohmatsu, Ernst & Young, KPMG, Pricewaterhouse Coopers.
Các công ty này đã đưa những cách thức tổ chức quản lý hiện đại cùng phương pháp đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng quốc tế vào thị trường kiểm toán Việt Nam trong giai đoạn đầu hoạt động ở lĩnh vực này. Chất lƣợng kiểm toán Đã có nhiều chuyên gia khác nhau trong lĩnh vực kiểm toán thực hiện các công trình nghiên cứu về chất lượng kiểm toán. Theo đó, trong một số công trình nghiên cứu, chất lượng kiểm toán được xác định là mức độ công ty kiểm toán tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán trong suốt quá trình thực hiện kiểm toán. Tiêu biểu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 cho quan điểm này có S.
Một số khác lại cho rằng chất lượng kiểm toán nên xem xét thêm ở khía cạnh khác như khả năng kiểm toán viên phát hiện sai phạm của hệ thống kế toán và báo cáo các sai phạm này cho khách hàng (DeAngelo, 1981; McConell, D.Y Bank, 1998), tính trung thực của thông tin tài chính được trình bày trên báo cáo tài chính sau khi được kiểm toán (Davidson, R. and Neu, 1993)… Tại Việt Nam, theo Chuẩn mực số 220 (Bộ Tài Chính, 2003) thì cho rằng chất lượng kiểm toán là mức độ thỏa mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của kiểm toán viên. Đồng thời thỏa mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của kiểm toán viên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong thời gian định trước với giá phí hợp lý. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng kiểm toán nhưng tựu trung lại thì về cơ bản, một trong những yếu tố then chốt để đánh giá chất lượng kiểm toán là kiểm toán viên cam kết đảm bảo khả năng phát hiện và báo cáo các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính được kiểm toán theo đúng quy định của chuẩn mực nghề nghiệp.
Từ đó, người sử dụng báo cáo tài chính đã được kiểm toán, nhất là các nhà đầu tư có thể tin tưởng vào kết quả kiểm toán do thỏa mãn mong muốn của họ, rằng các thông tin được kiểm toán là đáng tin cậy. Kiểm soát chất lƣợng kiểm toán Kiểm soát chất lượng kiểm toán bao gồm kiểm soát chất lượng kiểm toán từ bên trong và kiểm soát chất lượng kiểm toán từ bên ngoài doanh nghiệp. Kiểm soát chất lƣợng kiểm toán từ bên trong doanh nghiệp Công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán từ bên trong doanh nghiệp thực chất là hoạt động tự kiểm soát. Theo đó, các kiểm toán viên độc lập và công ty kiểm toán thực hiện các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng đối với toàn bộ hoạt động kiểm toán của công ty và đối với từng cuộc kiểm toán nhằm có cam kết hợp lý rằng mọi phần việc, mọi cuộc kiểm toán mà công ty thực hiện là phù hợp với chuẩn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 mực kiểm toán Việt Nam và những chuẩn mực kiểm toán quốc tế khác được thừa nhận tại Việt Nam (Trần Thị Giang Tân, 2009).
Thực tế, tại các quốc gia có lĩnh vực kiểm toán phát triển, các công ty kiểm toán được giao nhiều quyền hơn trong kiểm soát chất lượng kiểm toán. Điều này xuất phát từ đặc thù của nghề kiểm toán là lĩnh vực mà uy tín nghề nghiệp được xem là mục tiêu quan trọng nhất và việc giữ gìn uy tín nghề nghiệp là vấn đề sống còn của các công ty. Bởi hơn ai hết, họ chính là những người sẽ chịu mất mát nhiều nhất nếu công ty phát sinh vấn đề có ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín. Vụ phá sản của tập đoàn kiểm toán hàng đầu thế giới Athur Andersen liên quan đến đạo đức nghề nghiệp là bài học lớn và minh chứng cho tầm quan trọng của việc giữ gìn uy tín của các công ty kiểm toán.
Tuy nhiên, trong bối cảnh khi mà cung đang lấn át cầu như ở thị trường kiểm toán Việt Nam hiện nay, việc trao quyền tự kiểm soát khó có thể đạt được hiệu quả. Nguyên nhân chính là do uy tín chưa được xem là vấn đề hàng đầu đối với các công ty kiểm toán. Điều này dẫn đến chất lượng các cuộc kiểm toán có thể không được đảm bảo, gây rủi ro thông tin cho các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Kiểm soát chất lƣợng kiểm toán từ bên ngoài doanh nghiệp Kiểm soát chất lượng kiểm toán không chỉ thực hiện từ bên trong bởi các công ty kiểm toán mà nó còn được thực hiện bởi những tổ chức bên ngoài.
Theo đó, kiểm soát chất lượng kiểm toán bên ngoài doanh nghiệp được hiểu là công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện dịch vụ của kiểm toán viên hành nghề và của công ty kiểm toán. Công tác kiểm tra, đánh giá này được hội đồng hay ủy ban gồm những người hoạt động trong cùng ngành nghề đó thực hiện (Trần Thị Giang Tân, 2009). Tùy thuộc vào từng quốc gia mà các tổ chức này có thể là hội nghề nghiệp, ủy ban quốc gia về kiểm toán, cơ quan chức năng của Nhà nước hoặc các công ty kiểm toán khác nếu thực hiện kiểm tra chéo giữa các công ty với nhau. Công tác kiểm tra này được thực hiện thông qua cơ chế giám sát hoạt động đối với việc tuân thủ các chuẩn mực và quy định pháp lý của các công ty kiểm toán.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Ở Hoa Kỳ, một trong những quốc gia có nền kiểm toán phát triển, việc kiểm soát chất lượng kiểm toán được thực hiện bởi ba tổ chức gồm: Ủy ban Giám sát hoạt động kiểm toán cho các công ty đại chúng; Trung tâm chương trình Kiểm tra chéo các công ty kiểm toán cho các công ty đại chúng; và Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ.