CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CẤP NƯỚC TRONG NƯỚC VÀ TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 KHÁI QUÁT VÊ TÌNH HÌNH CẤP NƯỚC Ở NƯỚC TA 1.1 Lịch sử phát triển Nước là một bộ phận quan trọng trong đời sống của con người. Từ lâu trong sinh tồn và phát triển tất cả mọi người dân đều phải sử dụng các phương thức cấp nước khác nhau phục vụ cho nhu cầu ăn uống và sinh hoạt hằng ngày. Hiện nay rải rác trên khắp mọi miền đất nước vẫn còn tồn tại một số công trình và những dấu tích từ hàng trăm, hàng nghìn năm trước. Ngay sau ngày hoà bình lặp lại ở miền Bắc (1945), Đảng và Chính phủ đã quan tâm đến vấn đề sức khoẻ và môi trường sống của nhân dân nói chung và ở nông thôn nói riêng.
Từ năm 1960 ngành Y tế đã tuyên truyền vận động mạnh mẽ nhân dân xây dựng 3 công trình Giếng nước – Nhà tắm – Hố xí. Phong trào này nhanh chóng được triển khai trong phạm vi toàn quốc vào sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất (1975) và đạt được nhiều kết quả to lớn. Hưởng ứng “Thập kỷ Quốc tế cấp nước và vệ sinh môi trường của Liên Hợp Quốc 1981 ÷ 1990”, Chương trình cung cấp nước sinh hoạt nông thôn được bắt đầu triển khai ở Việt Nam với sự giúp đỡ mạnh mẽ của Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), Chương trình được thực thi ban đầu ở 3 tỉnh vùng đông bằng sông Cửu Long và mở rộng nhanh chóng trên phạm vi toàn quốc vào năm 1993. Mặc dù Chương trình đã được thực hiện 15 năm trên diện rộng nhưng kết quả đạt được còn khiêm tốn vì những hạn chế nguồn vốn (trung bình 75 tỷ hàng năm không tính phần đóng góp của người sử dụng).
Trong thời gian gần đây, lĩnh vực cung cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn được Chính phủ Việt nam và nhiều tổ chức Quốc tế , Quốc gia và phi Chính phủ quan tâm. Các tổ chức Quốc tế và các Quốc gia đã và đang dành sự quan tâm quý báu cho lĩnh vực. Nhiều dự án đang được chuẩn bị và triển khai như dự án nghiên cứu chiến lược cấp nước và VSMT nông thôn (Đan Mạch), dự án xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn (Ngân hàng Châu á), cấp nước nông thôn 5 tỉnh phía Bắc (Nhật). 6 Lĩnh vực cấp nước nông thôn Việt Nam chỉ phát triển một cách tự phát và không được quan tâm đúng mức trong thời gian trước 1990.
Từ những năm (1980 ÷ 1990), ở miền Trung có phong trào khuyến khích xây dựng giếng nước, nhà tắm và hố xí cho từng hộ. Kết quả là đã làm gia tăng một số lượng lớn các công trình này. Vào những năm 1980 và đầu những năm 1990, Chương trình nước sạch và VSMT nông thôn là Chương trình chủ yếu của nhà nước được UNICEF hỗ trợ mạnh mẽ, có tác dụng thúc đẩy lĩnh vực cấp nước sạch nông thôn. Do vậy trong một mức độ nào đó đã phát triển khả năng cấp nước sạch nông thôn ở các tỉnh trong phạm vi toàn quốc.
Hiện nay nước sạch và VSMT nông thôn đang được Chính phủ quan tâm và ưu tiên nhiều, năm 1994 Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị 200 TTg đề ra mục tiêu lớn của Nhà nước là đến năm 2000, 80% dân số được sử dụng nước sạch. Trong một quyết định mới đây, ngày 14/01/1998 Chính phủ đã đưa Chương trình Quốc gia về VSMT nông thôn là một trong 7 Chương trình Quốc gia và gần đây nhất, ngày 03/12/1998 Chính phủ ra quyết định số 237/1998/QD – TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và VSMT nông thôn. Như vậy Nhà nước đã có chú trọng vào tính bền vững lâu dài hơn và tỷ lệ phục vụ trước mắt, và có sự thay đổi chung từ cách thức cung cấp nước truyền thống sang một cách thức có hệ thống mà có tiếp cận được với các công nghệ hiện đại, phù hợp với phát triển của xã hội.2 Cấp nước sinh hoạt nông thôn Cấp nước sinh hoạt nông thôn là cả một quá trình lâu đời, bắt đầu từ khi con người sinh sống trên trái đất và kéo dài cho đến nay. Ở Việt Nam đại đa số các công trình cấp nước nông thôn do người dân tự làm hoặc tự đầu tư xây dựng theo những hình thức khác nhau tuỳ thuộc vào phong tục tập quán khả năng kinh tế và điều kiện tự nhiên.
Những công trình cấp nước có viện trợ của nước ngoài và đầu tư hỗ trợ của Nhà nước chiếm tỷ lệ nhỏ. Mặt khác chưa có hệ thống theo dõi – giám sát trên quy mô và toàn diện vì vậy việc đánh giá chính xác tỷ lệ người dân được hưởng nước sạch là điều khó khăn. Tuy nhiên những năm gần đây một số tổ chức Quốc tế và cơ quan Việt Nam đã có những cuộc điều tra, khảo sát về hiện tượng sử dụng 7 nước sạch ở vùng nông thôn và cho biết tỷ lệ bao trùm toàn quốc và trong từng vùng kinh tế - địa lý cụ thể. Bảng 1: Tỷ lệ người dân nông thôn sử dụng nước sạch theo các vùng Tỷ lệ % Bộ Dự án Khảo sát mức Vùng UNICEF xây nghiên cứu sông người dân dựng chiến lược Việt Nam Núi và Trung du Bắc bộ 17 17 19 37 Đồng bằng sông Hồng 37 33 38 37 Bắc Trung bộ 38 36 59 44 Nam Trung bộ 40 35 24 32 Tây Nguyên 29 18 20 35 Đông Nam bộ 30 21 23 29 Đồng bằng sông Cửu Long 48 39 34 25 TOÀN QUỐC 36 30 30 37 Tỷ lệ các loại hình kỹ thuật cấp nước.
Trong những năm qua đã có một số đánh giá tỷ lệ cấp nước theo các loại hình kỹ thuật khác nhau nhưng phần lớn trên quy mô nhỏ và chỉ tập trung ở một phạm vi nhất định vì vậy khó đại diện cho toàn quốc, thậm trí trong một vùng. Năm 1992 Tổng cục thống kê đã tiến hành khảo sát về mức sống của người dân Việt Nam, Trong đó bao gồm chỉ tiêu liên quan đến sử dụng nước sạch và vệ sinh. Năm 1997 dự án nghiên cứu chiến lược cấp nước và VSMT nông thôn do Chính phủ Đan Mạch viện trợ cũng tiến hành điều tra trên 9 tỉnh thuộc các vùng khác nhau. Các kết quả điều tra được tóm tắt theo vùng được trình bày dưới đây, bảng 2 8 Bảng 2: Tỷ lệ loại hình nước kỹ thuật theo vùng (%).
Cấp nước bằng Nước ngầm đường ống (nước Loại công nghệ Nước mưa Nước mặt mặt và nước Giếng khơi Giếng khoan ngầm) Tổng Tổng Tổng Tổng Dự án Dự án Dự án Dự án Dự án cục cục cục cục Tổng cục Vùng chiến chiến chiến chiến chiến thống thống thống thống thống kê lược lược lược lược lược kê kê kê kê Núi và Trung du Bắc bộ 6 5 18 22 72 70 2 3 0,6 Đồng bằng sông Hồng 26 20 12 47 55 25 4 6 1 1,3 Bắc Trung bộ 7 7 7 25 86 60 1 7 1,0 Nam Trung bộ 9 14 21 83 64 1 5 2 1,4 Tây Nguyên 5 19 20 79 72 2 1 0,9 Đông Nam bộ 1 9 5 17 74 60 7 8 12 5,7 Đồng bằng sông Cửu Long 21 9 58 56 9 14 11 18 3,5 TOÀN QUỐC 13 10 23 35 57 45 4 8 2 2 9 1.2 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CHUNG CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Điều kiện tự nhiên a. Vị trí địa lý Bắc Ninh là tỉnh nằm trong vùng châu thổ Sông Hồng, thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Địa hình Bắc Ninh khá bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy nước mặt đổ về sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình. Mức độ chênh lệch địa hình trên toàn tỉnh không lớn.
Vùng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh có cao độ phổ biến từ 3-7m so với mực nước biển và một số vùng thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ. Địa hình trung du miền núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh được phân bố rải rác thuộc thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Quế Võ, các đỉnh núi có độ cao phổ biến từ 60-100m, đỉnh cao nhất là núi Bàn Cờ ( thành phố Bắc Ninh) cao 171m, tiến đến là núi Bu ( huyện Quế Võ) cao 103m, núi Phật Tích ( huyện Tiên Du) cao 84m và núi Thiên Thai ( huyện Gia Bình) cao 71m. Tỉnh Bắc Ninh nằm trong phạm vi từ 20058’ đến 21016’ vĩ độ Bắc và 105054’ đến 106010’ kinh độ Đông, và có ranh giới như sau: Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang. Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Hải Dương.
Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên. Phía Tây giáp thành phố Hà Nội. 10 Hình 1: Vị trí tỉnh Bắc Ninh trên bản đồ Việt Nam Xã Tri Phương và xã Hoàn Sơn thuộc huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Tiên Du là huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm tỉnh 5km về phía Nam, cách thủ đô Hà Nội 25km về phía Bắc.
Tọa độ địa lý của huyện nằm trong khoảng từ 20005’30’’ đến 21011’00’’ độ vĩ Bắc và từ 105058’15’’ đến 106006’30’’ độ kinh Đông có giáp ranh với các địa phương sau: - Phía Bắc giáp thành phố Bắc Ninh và huyện Yên Phong. - Phía Nam giáp huyện Thuận Thành. - Phía Đông giáp huyện Quế Võ. - Phía Tây giáp huyện Từ Sơn.
Trên địa bàn huyện có 3 tuyến quốc lộ 1A, 1B, 38, tỉnh lộ 276, 295 và đường sắt chạy qua nối liền với thành phố Bắc Ninh, thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận, tạo cho huyện có thế mạnh trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa và tiêu thụ sản phẩm. 11 Hình 2: Vị trí xã Tri Phương – Hoàn Sơn trên bản đồ huyện Tiên Du b. Đặc điểm địa hình. Địa hình huyện Tiên Du tương đối bằng phẳng.
Hầu hết diện tích trong huyện đều có độ dốc <30 (trừ một số đồi núi thấp như: đồi Lim, núi Vân Khám, núi Chè, núi Phật Tích, núi Bát Vạn, núi Đông Sơn… có độ cao từ 20m-120m, chiếm diện tích nhỏ so với tổng diện tích đất tự nhiên). Địa hình vùng đồng bằng có xu thế nghiêng ra biển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Độ cao trung bình 2,5m - 6,0m so với mặt nước biển. Nhìn chung địa hình của huyện thuận lợi cho phát triển mạng lưới giao thông, thủy lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới khu dân cư, các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và kiến thiết đồng ruộng tạo ra những vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, phát triển rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày.