Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆU LỰC CỦA THADS VÀ ĐIỀU KIỆN KHẮC PHỤC, HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ÁN TỒN ĐỌNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆU LỰC CỦA THADS 1. Khái niệm về THADS THADS là hoạt động quan trọng nhằm đƣa bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc chƣa có hiệu lực pháp luật nhƣng đƣợc thi hành ngay của Toà án, quyết định của Trọng tài thƣơng mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh ra thi hành trong thực tế, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nƣớc, tổ chức, công dân và ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Trong điều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền thì công tác THADS càng trở nên quan trọng, đảm bảo nguyên tắc thƣợng tôn pháp luật và thúc đẩy hiệu lực của nền tƣ pháp, đảm bảo niềm tin, sự tôn trọng của công dân đối với Nhà nƣớc.
Bàn về khái niệm THA nói chung, THADS nói riêng, hiện còn có những ý kiến khác nhau nhƣng tập trung cơ bản ở hai quan niệm: (1) Coi THA là giai đoạn của tố tụng, bởi lẽ có xét xử thì phải có THA, công tác THA dựa trên cơ sở của công tác xét xử. Xét xử và THA là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ lợi ích của đƣơng sự; (2) Coi THA là dạng hoạt động hành chính - tƣ pháp, bởi lẽ cho rằng: THA là dạng hoạt động của cơ quan hành chính nhà nƣớc. Theo quan niệm này thì tố tụng là quá trình tiến hành giải quyết các vụ án theo quy định của pháp luật; quá trình này trải qua nhiều giai đoạn nhƣng các giai đoạn có liên quan mật thiết với nhau trong thể thống nhất và xét xử là giai đoạn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cuối cùng của quá trình tố tụng cho nên bản án, quyết định của toà án là kết quả cuối cùng đánh dấu sự kết thúc của quá trình tố tụng [58]. Trên thực tế, THA nói chung và THADS nói riêng là quá trình diễn ra sau quá trình xét xử của toà án.
Bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt động THA. Vì vậy, có thể nói không có kết quả của hoạt động xét xử thì cũng không có hoạt động THA. Tuy nhiên, THA lại không phải là giai đoạn tố tụng (cuối cùng); bản án và quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật không phải là cơ sở duy nhất để tiến hành các hoạt động THA; THA đòi hỏi những nguyên tắc, thủ tục và cách thức hoạt động riêng. Để có thể tiến hành các hoạt động THA thì phải có quyết định THA, phải có kế hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm tra, xử lí và phải dựa trên những quy định cụ thể về THA [58].
Trong THADS thì Quyết định THA gắn liền với tổ chức THA, việc ra quyết định thi hành án đƣợc quy định cụ thể đối với từng trƣờng hợp tại Điều 5 của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ về quy định chi tiết và hƣớng dẫn một số điều của Luật THADS. Mặt khác, theo Quyết định số 02/2006/QĐ - BTP ngày 14 tháng 4 năm 2006 của Bộ trƣởng Bộ Tƣ pháp về của Chế độ thống kê THADS, giải thích từ ngữ tại Phụ lục 2, Thông tƣ số 01/2013/TT-BTP ngày 03 tháng 01 năm 2013 của Bộ Tƣ pháp hƣớng dẫn Chế độ báo cáo thống kê THADS thì đơn vị tính trong thống kê THADS bằng việc và giá trị, trong đó việc THADS đƣợc tính trên cơ sở quyết định THADS. Mỗi quyết định THADS được tính là một việc [8]. Do đó, một bản án, quyết định, căn cứ vào tình hình thực tế Thủ trƣởng cơ quan THADS có thể ra một quyết định THADS hay nhiều quyết định THADS.
Nhƣ vậy, trong THADS chỉ có khái niệm “việc THADS”, mỗi một quyết định THA là một việc THADS mà không có khái niệm “án THADS”. Vì vậy, có thể hiểu việc THADS là quyết định THADS của Thủ trưởng cơ quan THADS nhằm đưa bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc chưa có hiệu lực nhưng được thi hành ngay hoặc các quyết định khác theo quy định của pháp luật ra thi hành trên thực tế. Án dân sự tồn đọng và nguyên nhân án dân sự tồn đọng * Khái niệm - Khái niệm án dân sự tồn đọng Mặc dù khái niệm án tồn đọng cũng đƣợc sử dụng nhiều trong các báo cáo, thống kê của ngành Toà án và trong các tài liệu của Hệ thống THADS cũng sử dụng thuật ngữ này một cách khá phổ biến, nhƣng cho đến nay, chƣa có khái niệm chính thức về “án dân sự tồn đọng”. Pháp lệnh THADS trƣớc đây, Luật THADS 2008, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS năm 2014 đều chƣa quy định cụ thể thời hạn bắt buộc cơ quan THADS phải tổ chức thi hành xong một quyết định THA.
Do đó, về nguyên tắc cơ sở pháp lý để xác định tồn đọng án dân sự (sau đây gọi là án tồn đọng) gặp nhiều khó khăn. Theo từ điển Tiếng Việt, thì tồn đọng là sự kéo dài, chƣa thể thực hiện đƣợc, chƣa đƣợc xử lý, giải quyết trong một thời hạn cụ thể nào đó một công việc. Do đó, việc THADS tồn đọng hiểu một cách đơn giản là những việc THADS (những quyết định THA) chƣa đƣợc thực hiện trong một thời gian nhất định theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng, "án dân sự tồn đọng" là gồm cả những quyết định thi hành phần dân sự trong bản án hình sự, cách hiểu này không đúng, vì đó là “án hình sự”.
Do đó, “án dân sự tồn đọng” cần đƣợc hiểu là “việc thi hành án dân sự tồn đọng” Qua hoạt động thực tiễn và quy định của Chế độ thống kê THADS, thì hoạt động THADS đƣợc xác định theo từng kỳ báo cáo: Kỳ báo cáo thống kê THADS đƣợc tính theo ngày dƣơng lịch, bắt đầu từ ngày 01/10 của năm trƣớc và kết thúc vào ngày cuối cùng của các tháng tƣơng ứng với kỳ thống kê đó. Năm báo cáo thống kê THADS kết thúc vào ngày 30/9 năm sau. Kỳ báo cáo 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống kê THADS bao gồm 12 kỳ, tƣơng ứng với từng tháng. Kết thúc mỗi kỳ, thì cơ quan THADS tiến hành rà soát, khoá sổ và thống kê kết quả THA theo từng kỳ.
Từ những phân tích nêu trên, theo tác giả luận văn, án dân sự tồn đọng có thể đƣợc hiểu theo nghĩa sau đây: Án dân sự tồn đọng gồm tất cả các việc thi hành án (quyết định THA) chưa thi hành xong tại các kỳ báo cáo, chưa được xoá sổ thụ lý phải chuyển sang kỳ sau để thi hành tiếp. - Các loại việc được coi là tồn đọng (chuyển kỳ sau). Theo quy định tại Thông tƣ số 01/2013/TT-BTP ngày 03/1/2013 của Bộ Tƣ pháp hƣớng dẫn Chế độ báo cáo thống kê THADS, Thông tƣ số 08/2015/TT-BTP ngày 26 tháng 6 năm 2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tƣ 01/2013/TT-BTP ngày 03 tháng 01 năm 2013, thì việc THADS đƣợc chuyển sang kỳ sau bao gồm: + Việc tạm đình chỉ THADS: Là những việc THA đang tổ chức thi hành, nhƣng ngƣời có thẩm quyền kháng nghị tạm đình chỉ THA và những việc Thủ trƣởng cơ quan THADS ra quyết định tạm đình chỉ THA khi có quyết định thụ lý đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp. + Việc hoãn THADS: Là những việc THADS đƣợc Thủ trƣởng cơ quan THADS ra quyết định hoãn thi hành theo yêu cầu của ngƣời có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định hoặc khi xuất hiện các căn cứ theo quy định tại Điều 48 Luật THADS.
+ Việc THADS dở dang: Là những việc cơ quan THADS qua xác minh đã xác định đƣợc ngƣời phải THA có điều kiện THA (có tài sản để thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc có khả năng để thực hiện các nghĩa vụ về hành vi), nhƣng chƣa tổ chức thi hành xong tại thời điểm báo cáo. + Việc chƣa thi hành đƣợc: Là những việc cơ quan THADS mới ra quyết định THA ngay tại thời điểm khoá sổ để xây dựng báo cáo thống kê THADS, nhƣng chƣa xác định đƣợc đƣơng sự có hay không có điều kiện THA. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Số chƣa có điều kiện thi hành: Là những việc mà ngƣời phải THA không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho ngƣời phải THA, ngƣời mà họ có trách nhiệm nuôi dƣỡng và không có tài sản để THA hoặc có tài sản nhƣng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cƣỡng chế THA hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không đƣợc kê biên, xử lý để THA; Ngƣời phải THA phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhƣng vật phải trả không còn hoặc hƣ hỏng đến mức không thể sử dụng đƣợc; phải trả giấy tờ nhƣng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại đƣợc mà đƣơng sự không có thỏa thuận khác; Chƣa xác định đƣợc địa chỉ, nơi cƣ trú của ngƣời phải THA, ngƣời chƣa thành niên đƣợc giao cho ngƣời khác nuôi dƣỡng. + Lý do khác: Là những việc THA mà cơ quan THADS chƣa tổ chức thi hành xong tại thời điểm khoá sổ xây dựng báo cáo thống kê, bao gồm: bản án, quyết định tuyên không rõ, khó thi hành, vụ việc chƣa có sự thống nhất ý kiến giữa các cơ quan hữu quan về đƣờng lối giải quyết, tài sản kê biên, phải giao theo bản án quyết định nhƣng chƣa xử lý đƣợc và tạm ngƣng THADS để giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả THADS * Yếu tố chủ quan: (1) Xuất phát từ cơ quan THADS: - Năng lực, trình độ của một bộ phận CHV, cán bộ, công chức làm công tác THADS còn hạn chế, chƣa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong tổ chức thi hành bản án, quyết định có hiệu lực đƣợc phân công thi hành; - Công tác rà soát, phân loại án, báo cáo thống kê THADS, lập kế hoạch tổ chức và giám sát việc tổ chức THA chƣa đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, nhiều trƣờng hợp còn thiếu chính xác khiến cho việc tổ chức đôn đốc THA chƣa kịp thời; - Một số cơ quan THA chƣa thật sự chủ động, tích cực trong việc giải quyết các vƣớng mắc liên quan đến việc tổ chức thi hành các bản án, quyết 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.