Chương 1. Những vấn đề cơ bản về biện pháp cưỡng chế trả nhà, giao nhà trong thi hành án dân sự. Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế trả nhà, giao nhà trong thi hành án dân sự. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ TRẢ NHÀ, GIAO NHÀ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.
Khái niệm, đặc điểm của biện pháp cưỡng chế trả nhà, giao nhà trong thi hành án dân sự 1. Khái niệm biện pháp cưỡng chế trả nhà, giao nhà trong thi hành án dân sự THADS là giai đoạn cuối cùng trong hoạt động tố tụng để đưa các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chính thức đi vào thực hiện trên thực tế1. Một trong những công cụ hỗ trợ đắc lực trong công tác THADS đó là các quy định về các biện pháp cưỡng chế trong THADS. Tương tự như biện pháp bảo đảm THADS, biện pháp cưỡng chế THADS đều là biện pháp pháp lý được CHV áp dụng theo một trình tự, thủ tục luật định trong quá trình tổ chức thực hiện việc THA, được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước, áp dụng trên tài sản của người phải THA2.
Tuy nhiên, khác với biện pháp bảo đảm, chỉ đặt tài sản của người phải THA trong tình trạng bị hạn chế hoặc tạm thời bị cấm sử dụng, định đoạt, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng nhằm bảo toàn điều kiện THA, ngăn chặn người phải THA thực hiện việc tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng về tài sản, trốn tránh việc THA 3 thì biện pháp cưỡng chế mang tính chất quyền lực cao hơn, là công cụ để CHV sử dụng nhằm tước bỏ quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt của người phải THA đối với tài sản, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của người được THA và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng4 thì “biện pháp” được hiểu là “cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”, còn theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Thanh niên thì “biện pháp” là “cách xử lý để giải quyết một vấn đề cụ thể”. Về khái niệm của cưỡng chế thì có rất nhiều các định nghĩa khác nhau như tại Thuật ngữ pháp lý5 thì “Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc đối tượng nào đó phải chấp hành quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền”, tương tự, cuốn từ điển Từ 1 Nguyễn Vinh Hưng (2016), “Quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự và THADS”, Tạp chí khoa học kiểm sát, số 06, trang 05. 2 Trần Anh Tuấn (2009), “Bản chất pháp lý của biện pháp bảo đảm THA dân sự theo Luật THADS”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 16/2009, trang 50-51.
3 Phan Huy Hiếu (2012), Biện pháp bảo đảm THADS, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 10. 4 Viện khoa học ngôn ngữ (1998), Từ điển Tiếng việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng. 5 Nguyễn Mạnh Hùng (2011), Thuật ngữ pháp lý, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. 10 và ngữ Việt Nam6 thì định nghĩa cưỡng chế là “Dùng pháp luật mà bắt phải làm theo”, trong Đại Từ điển tiếng Việt7 thì cưỡng chế là “bắt buộc phải tuân theo bằng sức mạnh quyền lực: tính chất cưỡng chế của pháp luật” và Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Thanh niên ấn8 định nghĩa “cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước bắt buộc người khác phải tuân theo” và thi hành là “làm cho thành có hiệu lực điều đã được chính thức quyết định”.
Về mặt pháp lí, khái niệm “THA” là hoạt động làm cho các bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành của Tòa án được thực thi trên thực tế. Có thể nói rằng, biện pháp cưỡng chế THA tuy phải thực hiện theo một trình tự, thủ tục tương đối dài và phức tạp nhưng đây là cách thức làm cho các bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án được thực hiện đầy đủ và đạt kết quả cao hơn. Các biện pháp cưỡng chế THA giữ vai trò quan trọng cho quá trình THA, nhằm bảo vệ quyền và nghĩa vụ dân sự được ghi nhận trong bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cao hơn là tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền và nghĩa vụ dân sự được ghi nhận trong bản án, quyết định cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Biện pháp cưỡng chế THADS là biện pháp pháp lý được CHV áp dụng khi đã hết thời hạn tự nguyện THA hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải THA tẩu tán, huỷ hoại tài sản nhằm buộc người phải THA phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án khi họ có điều kiện THA mà không tự nguyện thi hành.
Cưỡng chế THA là biện pháp nghiêm khắc nhất và thể hiện đầy đủ nhất việc sử dụng quyền lực nhà nước trong công tác THADS để bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại được thi hành trên thực tế. Cũng chính vì thế, khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong THADS, CHV phải tuân thủ những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định rất chặt chẽ. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Khoa Học xã hội vùng Nam Bộ - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam9 thì hành động “giao” được định nghĩa là “đưa cho để làm hoặc để chịu trách nhiệm” và “trả” được hiểu là “đưa lại vật gì của người 6 Nguyễn Lân (2000), Từ điển Từ và ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh.
7 Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam – Bộ Giáo dục và đào tạo, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, trang 499. 8 Viện khoa học ngôn ngữ (2001), Từ điển Tiếng việt, Nhà xuất bản Thanh niên. 9 Viện Khoa Học xã hội vùng Nam Bộ - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (2018), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Hồng Đức, trang 419, 763, 764, 1084. 11 khác mà mình mượn, vay, giữ” hoặc “đưa tiền để đổi cái mình thuê hay mua”.
Trong biện pháp cưỡng chế thì hai động từ này đều mang nghĩa chuyển một vật từ người này sang người khác với hàm nghĩa bị động, bởi lẽ biện pháp cưỡng chế được thực hiện để buộc một bên có nghĩa vụ phải giao hoặc trả một cái gì đó cho bên có quyền, nghĩa vụ chỉ kết thúc trong trường hợp việc giao, trả được thực hiện xong trên thực tế nên nghĩa của các từ “giao” và “trả” khi được đặt trong nội hàm của biện pháp cưỡng chế chỉ được hiểu ở nghĩa là “đưa cho để chịu trách nhiệm” và “đưa lại vật gì của người khác mà mình mượn, vay, giữ”. Danh từ “nhà” được hiểu đa nghĩa, theo đó, nhà được hiểu là “công trình xây dựng có mái, có tường vách để ở hay để dùng vào việc nào đó” hoặc “chỗ ở riêng, thường cùng với gia đình”. Với định nghĩa trên thì mọi công trình xây dựng đó có mái, có tường vách, được sử dụng với mục đích dùng để ở hoặc được sử dụng với mục đích khác như làm kho để đồ, nơi trưng bày, buôn bán,… thì đều được xem là nhà. Như vậy, có thể hiểu “giao nhà” là hành động đưa công trình xây dựng có mái, có tường vách để ở hay để dùng vào việc nào đó hoặc đưa chỗ ở riêng cho người khác để chịu trách nhiệm nào đó.
Còn “trả nhà” được hiểu là “Đưa lại công trình xây dựng có mái, có tường vách để ở hay để dùng vào việc nào đó hoặc đưa lại chỗ ở riêng của người khác mà mình mượn, vay, giữ”. Từ những phân tích trên, theo tác giả: Biện pháp cưỡng chế trả nhà, giao nhà là biện pháp pháp lý được CHV áp dụng trong quá trình tổ chức THA theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ khi bản án, quyết định tuyên người phải THA có nghĩa vụ trả nhà, công trình xây dựng, vật kiến trúc hoặc trường hợp giao nhà, công trình xây dựng, vật kiến trúc cho người mua trúng đấu giá, người được THA để trừ vào tiền được THA mà người phải THA, người đang quản lý, sử dụng có điều kiện THA nhưng không tự nguyện thi hành. Khái niệm trên cho thấy việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trả nhà, giao nhà theo Điều 115 Luật THADS là một trong những biện pháp cưỡng chế phức tạp và khó khăn nhất trong giai đoạn tổ chức THA. Trước đây, trong các Pháp lệnh về THADS năm 1989, năm 1993, năm 2004 và Luật THADS năm 2008 đều có quy định về cưỡng chế trả nhà, giao nhà.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định về cưỡng chế trả nhà, giao nhà trong các văn bản pháp luật trước đây, Luật THADS hiện hành đã có những quy định chi tiết, cụ thể hơn và có nhiều điểm mới tiến bộ đối với biện pháp này. Đặc điểm của biện pháp cưỡng chế trả nhà, giao nhà trong thi hành án dân sự Biện pháp cưỡng chế trả nhà, giao nhà là một trong các biện pháp cưỡng chế trong THA nên biện pháp này có những đặc điểm chung của biện pháp cưỡng chế THADS như sau: Thứ nhất, mang tính quyền lực nhà nước. Cũng như nhiều loại cưỡng chế khác thì cưỡng chế THADS thể hiện quyền lực nhà nước, theo đó, Nhà nước thực hiện cưỡng chế THA thông qua CHV - chủ thể được Nhà nước trao quyền - được sử dụng quyền lực Nhà nước để bảo vệ và khôi phục các quyền về tài sản, các quyền về dân sự khác cho đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo nội dung bản án, quyết định có hiệu lực thi hành. Bằng việc ban hành các quyết định cưỡng chế, CHV buộc cá nhân, tổ chức nhất định phải chấp hành án theo thủ tục THADS, nếu không chấp hành thì sẽ bị xử lý nghiêm bằng các hình thức như xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại nếu có.
Chính vì vậy, khi cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thì họ bắt buộc phải tôn trọng và phối hợp thực hiện bản án, quyết định, nếu có hành vi chống đối thì sẽ bị cơ quan THA trấn áp bằng việc sử dụng lực lượng chuyên chính là cảnh sát để bảo vệ cưỡng chế THADS. Thứ hai, cưỡng chế THADS là một biện pháp THADS. Bản án, quyết định được thi hành có nhiều khoản, tùy từng trường hợp cụ thể có thể tổ chức thi hành một hoặc một số khoản trong bản án, quyết định theo yêu cầu của đương sự hoặc quy định của pháp luật.