phần mở đầu, tổng quan, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 3 chương, 7 tiết. 5 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN Trong những năm gần đây xuất hiện nhiều công trình khoa học nghiên cứu tình trạng tha hóa cả về lý luận và thực tiễn. Các công trình nghiên cứu đặc biệt tập trung vào vấn đề tha hóa đạo đức. Những công trình liên quan đến vấn đề lý luận về khắc phục tình trạng tha hóa và tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay 1.
Lý luận về đạo đức Đạo đức là một phạm trù được hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại. Từ xưa đến nay, có nhiều nhà triết học, nhà tư tưởng bàn về đạo đức. Ở mỗi thời kỳ lịch sử, mỗi dân tộc khác nhau người ta có những quan niệm về đạo đức khác nhau. Ở nước ta, vấn đề đạo đức luôn được coi trọng.
Đặc biệt từ khi bước vào thời kỳ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề lý luận về đạo đức càng được đề cập nhiều hơn. Đi sâu về vấn đề này có một số công trình nghiên cứu sau: Bàn về giá trị đạo đức ở Việt Nam trong thời kỳ kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, tác giả Phạm Văn Đức (2002) có bài viết: “Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”. Tác giả đánh giá thành tựu của 15 năm đổi mới. Tuy nhiên bên cạnh những thành công về mặt kinh tế là sự xuống cấp về đạo đức.
Điều đó có liên quan đến mặt trái của cơ chế thị trường. Theo tác giả, mặt trái của cơ chế thị trường tác động tiêu cực tới các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có đạo đức. Tác giả chỉ ra hai khuynh hướng với hai quan niệm khác nhau về đạo đức: Quan điểm thứ nhất cho rằng: nguyên nhân dẫn đến “sự xuống cấp về đạo đức xã hội bắt nguồn từ việc khuyến khích lợi ích cá nhân của người lao động, rằng lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội là hai yếu tố hoàn toàn không dung hợp với nhau” [40]. Phê phán quan niệm này, tác giả khẳng định: “Vì, sự sống còn của bản thân mình, con người có nhu cầu chung phải liên kết với nhau.
Bản thân những nhu cầu chung này là cơ sở nảy sinh những lợi ích chung giữa họ. Song, ngoài những lợi ích chung đó, mỗi con người lại có những lợi ích riêng nảy sinh trên cơ sở của các nhu cầu được hình thành từ những hoàn cảnh lịch sử - cụ thể” [40]. Điều này cho thấy giữa lợi ích chung và lợi ích riêng có sự thống nhất với nhau, từ đó dẫn đến xem xét đạo đức cũng dựa trên mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng. Quan điểm thứ hai cho rằng: “cơ chế thị trường là môi trường thuận lợi để phát huy vai trò chủ thể cá nhân, là cơ chế tốt cho nhân cách phát triển trong điều kiện hiện nay”[40].
Điều này cũng chỉ đúng ở khía cạnh nhất định. Tuy nhiên, chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận cạnh tranh, từ chỗ cạnh tranh đánh vào lợi ích của con người mà lợi ích của con người cũng có hai mặt, lợi ích chính đáng và lợi ích không chính đáng. Khi nào con người biết điều chỉnh hài hòa giữa lợi 6 ích cá nhân với lợi ích cộng đồng thì con người sẽ điều chỉnh được lợi ích chính đáng. Khi điều chỉnh được lợi ích chính đáng thì “không những tạo ra những sản phẩm thoả mãn các nhu cầu cá nhân của mình, góp phần làm giàu cho bản thân, mà còn góp phần xoá đói, giảm nghèo, làm giàu cho xã hội” và “đến lượt nó, sự giàu có chính đáng của cá nhân đã làm nảy sinh ở con người những tấm lòng hào phóng, từ thiện, sự thân ái, lòng vị tha” [40], khi ấy hành vi đạo đức của con người được xã hội đồng tình.
Ngược lại khi con người tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân thì con người dễ bị tha hóa về đạo đức và khi ấy xã hội sẽ lên án. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ lợi ích cá nhân, lợi ích cộng đồng, tác giả chỉ ra mặt trái của cơ chế thị trường ở Việt Nam hiện nay có tác động tiêu cực tới đạo đức truyền thống: Một là, xem nhẹ đạo đức truyền thống, không đề cao đạo lý, chạy theo lối sống gấp, sống vội và sa vào lối sống trụy lạc. Hai là, sự phản ứng của xã hội đối với các hành vi vô đạo đức, phi đạo đức cũng giảm đi; sự lên án những thói hư, tật xấu và những hành vi vô đạo đức, phi đạo đức không được đề cao. Tình trạng số người có quan điểm thờ ơ với những tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng.
Ba là, thói đạo đức giả ngày càng có chiều hướng gia tăng. Tất cả những biểu hiện trên là do lối sống thực dụng, chạy theo danh lợi cá nhân, coi thường lợi ích cộng đồng. Có thể nói vấn đề tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân trong nền kinh tế thị trường là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tha hóa về đạo đức. Muốn điều chỉnh vấn đề này thì phải xem xét về mặt lợi ích, lợi ích đó có phù hợp với lợi ích chung của xã hội hay không.
Đồng thời, không nên phán xét một cách tầm thường, sự xuống cấp về đạo đức bắt nguồn từ khuyến khích lợi ích cá nhân. Tác giả Lê Duy Chương (2007) “Thấm nhuần tư tưởng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư của Hồ Chí Minh” [13]. Bài viết đã lý giải sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về cốt lõi của đạo đức cách mạng là “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Tác giả bài viết chỉ ra: Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược đã sản sinh ra những cán bộ, đảng viên không tiếc tuổi xuân, dũng cảm, tiên phong trong cuộc đấu tranh một mất, một còn vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
“Nhiều người trong số họ đã không được hưởng niềm vui của ngày độc lập, thống nhất đất nước”[13], nhưng họ xứng đáng là những tấm gương tiêu biểu nhất về sự “chí công, vô tư”, đặt lợi ích tối cao của đất nước lên trên lợi ích cá nhân. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay vẫn còn không ít cán bộ, lãnh đạo, quản lý suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống; thiếu tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ được giao; không chịu học tập, lười rèn luyện, không dám đương đầu với khó khăn, gian khổ; quan liêu, tham nhũng, lãng phí…”Chính họ là một lực cản của tiến bộ xã hội; là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, làm giảm 7 hiệu lực quản lý của Nhà nước, làm vẩn đục đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, điều mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang dày công vun đắp”[13]. Những tệ nạn này đã gây bức xúc cho toàn xã hội. Từ phân tích thực trạng, tác giả đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.
Theo tác giả, người cán bộ muốn tu dưỡng được đạo đức cách mạng thì cần phải thực hiện những quan điểm sau: Thứ nhất, mọi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” sâu sắc hơn nữa. Thứ hai, muốn việc giáo dục đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” tốt hơn thì phải khôi phục và đẩy mạnh phong trào thi đua “Người tốt, việc tốt”, thực hiện nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức trong cán bộ, đảng viên. Thứ ba, phương pháp giáo dục đạo đức cách mạng là phải kết hợp chặt chẽ giữa “xây và chống”. “Xây dựng ý thức và thói quen hành vi đạo đức cho cán bộ, đảng viên không đơn thuần chỉ là quá trình tuyên truyền, giáo dục về các giá trị, chuẩn mực đạo đức cách mạng, mà còn là quá trình đấu tranh, khắc phục, loại bỏ dần thói hư, tật xấu của con người” [13].
Từ những phân tích trên tác giả đi đến kết luận: mỗi cán bộ, đảng viên, cho đến người dân, ai cũng phải có ý thức tự tu dưỡng đạo đức cách mạng. Việc tu dưỡng đạo đức cách mạng là việc làm thường xuyên, suốt đời. Trên cơ sở bài viết, tác giả luận án nhận thấy đây là bài viết có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn sâu sắc, đặc biệt tác giả bài viết chỉ ra không nhất thiết khó khăn, gian khổ mà con người bị tha hóa về đạo đức và thậm chí ngược lại họ còn hy sinh vì nhau, hy sinh cho nhau. Tuy nhiên giai đọan hiện nay điều kiện kinh tế tốt hơn con người dễ nảy sinh tình trạng tha hóa về đạo đức.
Rõ ràng việc giáo dục đạo đức có vấn đề, chính điều này tác giả luận án kế thừa trong phần giải pháp của mình. Cùng chủ đề này, tác giả Đoàn Quốc Thái (2010) có bài viết “Bàn thêm về khái niệm “giá trị đạo đức”[132]. Trong bài viết này, tác giả đã khái quát những quan điểm về đạo đức trong lịch sử triết học và những quan điểm của các nhà khoa học về đạo đức và giá trị đạo đức; tác giả đi sâu vào phân tích, làm rõ khái niệm “đạo đức”, khái niệm “giá trị đạo đức”. Từ những phân tích trên, tác giả xác định những chuẩn mực giá trị đạo đức phải căn cứ vào không gian và thời gian của nó, nghĩa là giá trị đạo đức có tính lịch sử.
Tác giả cũng chỉ ra tính chất chung, tính đặc thù, tính đơn nhất của đạo đức. Ngoài ra tác giả còn cho thấy tính tương đối ổn định của chuẩn mực, giá trị đạo đức ở từng giai đoạn lịch sử nhất định. Ở mỗi một thời đại khác nhau, người ta đưa ra những chuẩn mực đạo đức khác nhau, giá trị của nó cũng khác nhau. Không chỉ khác nhau về thời gian mà chuẩn mực giá trị đạo đức cũng khác nhau về không gian.
Ở mỗi quốc gia, dân tộc, tôn giáo đều có những quy định đặc thù về chuẩn mực giá trị của đạo đức. Không chỉ vậy, tác giả bài viết còn 8 cho thấy: ở mỗi mối liên hệ xã hội khác nhau thì chuẩn mực giá trị đạo đức cũng khác nhau, thậm chí còn đối lập nhau.