CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN VÀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN 1. Khái niệm về vốn và huy động vốn của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về vốn của Ngân hàng thương mại.
Các ngân hàng thương mại dù được tổ chức theo loại hình nào thì đều có chung một mục tiêu hàng đầu là tối đa hóa lợi nhuận. Để đạt được đi ều đó thì vốn luôn là yếu tố tiền đề của mỗi ngân hàng. Vốn không chỉ là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh mà còn là yếu tố quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thương trường, đồng thời quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Vậy vốn là gì? Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị ti ề n tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được để tiến hành các hoạt động cho vay, đầu tư hoặc các dịch vụ kinh doanh khác.
[7] Biểu hiện của vốn trong kinh doanh ngân hàng chủ yếu là ti n. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại được hình thành từ nguồn vốn tự có (vốn chủ sở hữu) và vốn huy động. * Vốn tự có (Vốn chủ sở hữu) : là nguồn lực tự có do ngân hàng tạo lập được thuộc sở hữu riêng của ngân hàng, thông qua góp vốn của các chủ sở hữu hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh. Mặc dù chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, song nó lại là yếu tố cơ bản đầu tiên quyết định sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng.
Mặt khác, với chức năng bảo vệ, vốn tự có được coi như tài sản đảm bảo gây lòng tin đối với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trư ng hợp ngân hàng gặp thua 9 lỗ. Vốn tự có cũng là căn cứ để tính toán các hệ số đảm bảo an toàn và các chỉ tiêu tài chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Do tính chất ổn định của nó, Ngân hàng có thể sử dụng vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất, mua tài sản cố định, dùng để đầu tư hay góp vốn liên doanh. Vốn tự có của NHTM được hình thành bởi vốn tự có cơ bản (vốn điều lệ - vốn pháp định) và vốn tự có bổ sung (quỹ dự trữ bổ sung vốn đi ều lệ, quỹ dự phòng bù đắp rủi ro, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi.
* Vốn huy động : Là những giá trị ti ền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội [7]. Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân hàng. Xét về tính sở hữu, vốn huy động của NHTM là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác. Ngân hàng chỉ có quyề n sử dụng mà không có quyền sở hữu với nguồn vốn này và phải có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi chủ sở hữu có nhu cầu rút vốn.
Nguồn vốn này luôn biến động nên ngân hàng không được sử dụng hết mà phải có dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán. Vốn huy động của NHTM chủ yếu bao gồm: Nhận ti ền gửi của các tổ chức kinh tế (tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn), huy động từ các tầng lớp dân cư (tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu),. vốn đi vay và các nguồn vốn khác. Khái niệm về huy động vốn của Ngân hàng thương mại Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM.
Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các d ch vụ ngân hàng cho khách hàng. Nhìn vào bảng cân đối tài sản của NHTM chúng ta thấy rằng hoạt động huy động vốn được phản ánh bên phần tài sản nợ. Do vậy, huy động vốn còn được gọi là nghiệp vụ tài sản nợ. 10 Ve mặt khái niệm, có thể hiểu Huy động vốn là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau để hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng.
Thực chất vốn huy động của ngân hàng là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, người sở hữu chúng gửi vào ngân hàng với mục đích thanh toán, tiết kiệm hay đầu tư. Nói cách khác, họ chuyển nhượng vốn cho ngân hàng để ngân hàng trả lại họ một khoản thu nhập. Nhờ hoạt động huy động vốn của mình, ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung vốn và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại 1.
Huy động qua tiền gửi Các ngân hàng hiện nay chủ yếu huy động vốn thông qua nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức ti ền gửi có kỳ hạn, ti ề n gửi không kỳ hạn và các loại ti ề n gửi khác. Ti ền gửi được hiểu là số ti ề n khách hàng gửi lại tổ chức tín dụng dưới hình thức ti n gửi không kỳ hạn, ti n gửi có kỳ hạn, ti n gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Ti n gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho ngư i gửi ti n. * Tiền gửi không kỳ hạn Ti n gửi không kỳ hạn là những giá tr ti n tệ mà khách hàng gửi vào ngân hàng với mục đích chính không phải để lấy lãi mà chủ yếu để hưởng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng.
Loại tiền gửi này nhằm đảm bảo an toàn cho tài sản và thực hiện các khoản chi trả của doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất hay tiêu dùng cá nhân. Khách hàng gửi ti ền phần lớn là những tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các cá nhân làm ăn buôn bán phải thanh toán ti n hàng hóa, d ch vụ liên tục. 11 Ti ền gửi không kỳ hạn là loại ti ền gửi thanh toán mà khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng có trách nhiệm phải thực hiện các khoản chi trả kịp thời, chính xác cho khách hàng trong phạm vi số dư. Vì vậy, đây là nguồn vốn biến động thất thường, và cũng là nguồn rẻ nhất mà ngân hàng huy động được.
Nó bao gồm; tài khoản giao dịch, tài khoản séc. Các công cụ thanh toán của những loại này phổ biến là séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng. Ngày nay, ở các nước có nền kinh tế phát triển, hầu hết các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân đều mở tài khoản ở ngân hàng. Các giao dịch thanh toán, thu chi được thực hiện qua hệ thống ngân hàng bằng cách trích chuyển tài khoản.
Các giao dịch này được thực hiện thông qua các lệnh của khách hàng bằng các hình thức uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu. Các chủ tài khoản uỷ quyền cho ngân hàng thực hiện các lệnh chuyển tiền trên tài khoản của mình. Lượng tiền gửi thanh toán ngày càng tăng theo và đây là nguồn vốn huy động rất có lợi, vì ngân hàng chỉ phải trả một số tiền lãi theo lãi suất nhỏ hơn trong khi lại thu về một số tiền theo lãi suất cho vay luôn cao hơn nhiều; đồng th i thu được các khoản phí chuyển ti n của khách hàng. Tuy nhiên, các nguồn vốn này luôn biến động.
* Tiền gửi có kỳ hạn Với mục tiêu tập trung và tích tụ các nguồn vốn trong n n kinh tế để cấp tín dụng cho những khách hàng có nhu cầu vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, thì bên cạnh tiền gửi thanh toán, các ngân hàng rất chú trọng đến việc huy động tiền gửi có kỳ hạn, đây sẽ là khoản nguồn vốn quan trọng để các ngân hàng có thể đầu tư cho vay, tài trợ cho n n kinh tế. Ti n gửi có kỳ hạn là loại ti n mà các doanh nghiệp và cá nhân có thu nhập tạm th i chưa sử dụng trong một th i gian dài nhất đ nh gửi vào ngân hàng với sự thoả thuận nhất đ nh v th i gian, lãi suất. Theo đó, ngư i gửi chỉ được rút tiền ra khi đến hạn. Mục đích chính của khách hàng khi gửi ti ền là để kiếm l ời.
12 Loại ti ền gửi này sẽ là nguồn vốn rất ổn định đối với một ngân hàng, vì mục đích của người gửi là hưởng lãi chứ không phải để thanh toán như loại tiền gửi không kỳ hạn. Ngân hàng có thể chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này nhờ tính thời của nó. Tuy nhiên, trên thực tế do tính cạnh tranh trên các NHTM thường cho phép khách hàng rút tiền ra trước hạn và số ti ền đó được hưởng mức lãi suất không kỳ hạn. Ti n gửi có kỳ hạn này có nhi u loại kỳ hạn khác nhau, thông thư ng có các kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và 12 tháng.
Với mỗi loại kỳ hạn, ngân hàng áp dụng các mức lãi suất khác nhau và thay đổi thích hợp ở từng thời kỳ huy động vốn. Huy động qua tiền gửi tiết kiệm Ti n gửi tiết kiệm là khoản ti n để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng với mục đích an toàn và hưởng lãi, để chờ đợi một cơ hội chi tiêu nào đó trong tương lai. Để thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng, ngân hàng đa dạng hoá hình thức huy động tiết kiệm, bao gồm các loại tiền gửi tiết kiệm sau: * Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Đây là khoản ti n nhàn rỗi mà ngư i dân tạm th i gửi vào ngân hàng do không có kế hoạch chi tiêu cụ thể. Khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào và có thể gửi vào nhi ều lần.
Tuy nó là ti ề n gửi không kỳ hạn nhưng không phải ti n gửi thanh toán nên khách hàng không được hưởng các tiện ích thanh toán của ngân hàng. Đây cũng là nguồn vốn biến động thường xuyên nên ngân hàng phải chủ động trong việc chi trả cho khách hàng. Tuy nhiên, nó ít biến động hơn so với ti n gửi thanh toán không kỳ hạn nên được ngân hàng trả lãi cao hơn. 13 * Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Là loại tiền gửi có nội dung cơ bản giống như tiền gửi có kỳ hạn.