Tổng quan nghiên cứu

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 cả nước có khoảng 50% số xã đạt chuẩn, trong đó khu vực Miền núi phía Bắc phấn đấu đạt 28,0% với mức bình quân 13,8 tiêu chí trên mỗi xã. Là huyện miền núi biên giới nằm bao quanh thành phố Hà Giang, huyện Vị Xuyên sở hữu diện tích tự nhiên 147.840,92 ha cùng quy mô dân số 105.512 người, trong đó dân số nông thôn chiếm tới 87,1% với 91.855 người và hơn 80% lực lượng lao động làm việc trong ngành nông nghiệp. Với điểm xuất phát thấp, địa hình đồi núi chia cắt phức tạp và tỷ lệ hộ nghèo còn cao, việc tạo lập và phân bổ các nguồn lực tài chính, vật lực đất đai cùng nhân lực lao động cho xây dựng nông thôn mới tại 22 xã thuần nông của huyện đối mặt với vô vàn thách thức.

Mục tiêu trọng tâm của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác huy động, quản lý các nguồn lực; đánh giá toàn diện thực trạng huy động tổng nguồn vốn 1.199.243,54 triệu đồng tại huyện Vị Xuyên giai đoạn 2012 - 2016; xác định các yếu tố cản trở và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực đến năm 2020. Nghiên cứu thực hiện khảo sát chuyên sâu tại 3 xã đại diện theo phân tầng kết quả đạt chuẩn gồm xã Việt Lâm, xã Phú Linh và xã Lao Chải trong khung thời gian từ năm 2015 đến năm 2017. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp luận cứ khoa học định lượng giúp các cơ quan quản lý nâng cao hiệu quả phân bổ ngân sách, gia tăng tỷ trọng đầu tư phát triển sản xuất từ mức dưới 15% lên trên 20%, thúc đẩy hoàn thành bền vững 19 tiêu chí nông thôn mới trên toàn địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, trong đó nguồn lực được cấu thành từ ba bộ phận then chốt gồm nguồn nhân lực, nguồn tài lực và nguồn vật lực, được phân định rõ nét giữa nguồn nội lực bên trong và nguồn ngoại lực bên ngoài. Luận văn vận dụng mô hình lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng do Cohen và Uphoff xác lập năm 1979, chỉ ra bốn chiều kích tham gia cốt lõi của người dân gồm tham gia ra quyết định, tham gia đóng góp nguồn lực, tham gia thụ hưởng lợi ích và tham gia giám sát đánh giá.

Các khái niệm chuyên ngành nền tảng được định hình theo Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới ban hành kèm Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ với 19 tiêu chí chuẩn mực. Luận văn tổng kết sâu sắc bài học kinh nghiệm quốc tế từ phong trào Saemaul Undong khởi xướng năm 1970 tại Hàn Quốc với nguyên tắc cốt lõi là tự lực, hiệp lực cộng đồng khi Nhà nước hỗ trợ ban đầu 335 bao xi măng cho mỗi làng để kích hoạt nội lực gấp 5 đến 10 lần từ nhân dân. Đồng thời, công trình kế thừa kinh nghiệm từ Thái Lan về đầu tư hạ tầng thủy lợi và các điển hình thực tiễn tại huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên, huyện Bắc Mê và thành phố Hà Giang.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp có hệ thống từ các báo cáo chính thức của UBND huyện Vị Xuyên, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thống kê huyện giai đoạn 2012 - 2016 và 2015 - 2017. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua đợt khảo sát thực địa toàn diện năm 2017.

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định ở quy mô 120 phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp. Phương pháp chọn mẫu áp dụng là kỹ thuật chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên hệ thống. Cụ thể, tác giả phân loại 22 xã trên địa bàn huyện thành 3 nhóm để chọn ra 3 xã đại diện: nhóm 1 đạt trên 15 tiêu chí chọn xã Việt Lâm, nhóm 2 đạt từ 11 đến 15 tiêu chí chọn xã Phú Linh, nhóm 3 đạt dưới 10 tiêu chí chọn xã vùng cao biên giới Lao Chải. Tại mỗi xã, tác giả phỏng vấn ngẫu nhiên 30 hộ gia đình (tổng số 90 hộ dân) dựa trên danh sách thôn bản; đồng thời khảo sát 15 cán bộ chuyên trách Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia và 15 cán bộ thuộc các tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên.

Phương pháp phân tích được lựa chọn gồm thống kê kinh tế mô tả, thống kê so sánh và phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân (PRA) kết hợp xử lý số liệu qua phần mềm Excel. Việc lựa chọn các phương pháp này xuất phát từ yêu cầu phải lượng hóa chính xác cơ cấu các dòng vốn, đo lường mức độ biến động nguồn lực qua từng năm và đánh giá khách quan nhận thức cũng như mức độ sẵn lòng đóng góp ngày công, hiến đất của các tầng lớp cư dân địa phương. Timeline nghiên cứu được triển khai chặt chẽ từ năm 2015 đến đầu năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổng nguồn vốn huy động thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Vị Xuyên giai đoạn 2012 - 2016 đạt 1.199.243,54 triệu đồng. Trong cơ cấu nguồn vốn, vốn tín dụng chiếm tỷ trọng áp đảo lớn nhất với 647.980,89 triệu đồng (tương đương 54,03%), tiếp theo là vốn ngân sách địa phương các cấp đạt 325.460,49 triệu đồng (chiếm 27,14%), vốn đóng góp trực tiếp từ cộng đồng dân cư đạt 145.424,52 triệu đồng (chiếm 12,13%), ngân sách trung ương hỗ trợ trực tiếp là 57.838,04 triệu đồng (chiếm 4,82%), vốn đầu tư từ doanh nghiệp đạt 28.773,00 triệu đồng (chiếm 2,40%) và vốn lồng ghép từ các chương trình dự án khác là 16.926,60 triệu đồng (chiếm 1,41%).

Thứ hai, việc sử dụng nguồn lực tài chính còn mất cân đối nghiêm trọng khi trên 70% tổng nguồn vốn huy động được tập trung chi cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật nông thôn, chủ yếu là hệ thống giao thông với 450 km đường bộ (gồm 35 km Quốc lộ 2, 20 km Quốc lộ 4C và 395 km đường liên xã, liên thôn). Ngược lại, nguồn kinh phí dành riêng cho phát triển sản xuất, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm trực tiếp nâng cao thu nhập cho nông dân chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn khoảng 14,72%.

Thứ ba, nguồn lực phi tài chính được kích hoạt mạnh mẽ thông qua việc người dân 22 xã đóng góp hàng chục nghìn ngày công lao động công ích và tự nguyện hiến hàng nghìn mét vuông đất nông nghiệp, đất thổ cư để mở rộng mặt bằng giao thông nội đồng. Tuy nhiên, mức độ sẵn lòng tham gia có sự phân hóa sâu sắc: tại xã điểm Việt Lâm, 100% số hộ được phỏng vấn đều nắm rõ chủ trương và tích cực hiến đất làm đường; trong khi tại xã vùng cao Lao Chải, tỷ lệ người dân hiểu đúng bản chất chương trình còn thấp và vẫn tồn tại tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào ngân sách Nhà nước.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của tình trạng cơ cấu vốn phụ thuộc lớn vào nguồn tín dụng (54,03%) là do chính sách cho vay ưu đãi phát triển nông nghiệp, nông thôn được triển khai sâu rộng, đáp ứng đúng nhu cầu tái sản xuất của 91.855 người dân nông thôn. Nguồn vốn doanh nghiệp đạt thấp (2,40%) phản ánh thực tế môi trường đầu tư nông nghiệp tại huyện biên giới còn nhiều rủi ro, địa hình hiểm trở và thiếu vắng các cơ chế khuyến khích đủ mạnh.

So sánh với bức tranh chung của 14 tỉnh Trung du và Miền núi phía Bắc (với tổng vốn huy động 161.137 tỷ đồng, trong đó nguồn ngoài ngân sách chiếm 61,62%), huyện Vị Xuyên có nét tương đồng về việc huy động tốt nguồn lực xã hội hóa ngoài ngân sách. Tuy nhiên, mức huy động từ cộng đồng dân cư tại Vị Xuyên (12,13%) cao hơn mức bình quân 11,28% của toàn vùng, chứng minh tiềm năng to lớn từ sức dân nếu được khơi dậy đúng cách.

Dữ liệu nghiên cứu thực trạng này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng 6 nguồn vốn huy động và biểu đồ cột so sánh mức độ hoàn thành 19 tiêu chí giữa 3 xã khảo sát (Việt Lâm, Phú Linh, Lao Chải), qua đó làm nổi bật mối liên hệ tỷ lệ thuận giữa quy mô vốn đầu tư với tiến độ đạt chuẩn nông thôn mới.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu và tối ưu hóa danh mục phân bổ nguồn vốn đầu tư công. UBND huyện Vị Xuyên cùng Ban chỉ đạo nông thôn mới các cấp cần điều chỉnh tăng tỷ trọng nguồn vốn trực tiếp cho các mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa lên mức 20% đến 25% tổng chi ngân sách trong giai đoạn 2018 - 2020. Đồng thời, chủ động lồng ghép 100% nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và các dự án phát triển lâm nghiệp trên diện tích 102.900,13 ha đất lâm nghiệp để tránh tình trạng đầu tư dàn trải.

Thứ hai, mở rộng khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính sách và hoàn thiện cơ chế thu hút doanh nghiệp. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện chủ trì phối hợp cùng hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đơn giản hóa thủ tục vay vốn, phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng nông nghiệp từ 10% đến 12% mỗi năm. Song song đó, UBND huyện cần ban hành chính sách ưu đãi giải phóng mặt bằng, đặt mục tiêu thu hút từ 5 đến 10 doanh nghiệp chế biến nông lâm sản đầu tư liên kết chuỗi giá trị tại địa phương trước năm 2020.

Thứ ba, đẩy mạnh công tác tuyên truyền và phát huy triệt để nội lực cộng đồng. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cấp xã cần đổi mới hình thức truyền thông đến từng thôn bản, xóa bỏ tư tưởng ỷ lại; đặt mục tiêu huy động bình quân từ 15 đến 20 ngày công lao động trên mỗi hộ gia đình mỗi năm và vận động nhân dân hiến đất hoàn thiện 100% mặt bằng các tuyến đường liên thôn 395 km theo phương châm nhân dân làm, Nhà nước hỗ trợ vật tư.

Thứ tư, nâng cao năng lực quản trị dự án và thực hiện nghiêm quy chế dân chủ cơ sở. Phòng Nội vụ phối hợp cùng Văn phòng Điều phối NTM huyện tổ chức các khóa tập huấn nghiệp vụ quản lý tài chính cho 100% cán bộ thuộc Ban quản trị 22 xã; ban hành quy định bắt buộc niêm yết công khai các khoản thu chi đóng góp tại nhà văn hóa thôn định kỳ hàng quý, đảm bảo kiểm soát 100% dòng vốn không để xảy ra thất thoát, lãng phí hay nợ đọng xây dựng cơ bản.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý nhà nước và thành viên Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cấp huyện, cấp xã tại các tỉnh miền núi. Luận văn cung cấp khung phương pháp thực chứng trong việc phân bổ, lồng ghép 6 nguồn vốn và quản lý 19 tiêu chí phù hợp với điều kiện địa phương có xuất phát điểm thấp.

Nhóm thứ hai là các nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh và cơ quan tham mưu ngành nông nghiệp. Nghiên cứu mang lại các cứ liệu thực tế về rào cản thu hút vốn doanh nghiệp (chỉ đạt 2,40%) và hiệu quả của vốn tín dụng (chiếm 54,03%), giúp hoạch định chính sách tín dụng ưu đãi và cơ chế đặc thù cho các xã biên giới.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp và Quản lý công. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về thiết kế nghiên cứu phân tầng, ứng dụng công cụ điều tra PRA với quy mô 120 mẫu khảo sát và phương pháp lượng hóa các nguồn lực phi tài chính như đất đai, ngày công.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp và tổ chức phi chính phủ đang triển khai dự án phát triển sinh kế tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tài liệu cung cấp cái nhìn chi tiết về hiện trạng 147.840,92 ha đất đai, hệ sinh thái tự nhiên và tập quán sản xuất của 91.855 cư dân nông thôn huyện Vị Xuyên để xây dựng phương án đầu tư khả thi.

Câu hỏi thường gặp

Nguồn lực tài chính nào giữ vai trò chủ đạo trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Vị Xuyên? Nguồn vốn tín dụng giữ vị trí chủ đạo với tổng giá trị 647.980,89 triệu đồng, chiếm 54,03% tổng nguồn lực 1.199,24 tỷ đồng huy động trong giai đoạn 2012 - 2016. Dòng vốn này được giải ngân thông qua các chương trình cho vay phát triển sản xuất, trồng rừng và kinh tế trang trại của hệ thống ngân hàng thương mại và ngân hàng chính sách xã hội.

Tại sao tỷ trọng vốn huy động từ khu vực doanh nghiệp tại địa phương lại đạt mức rất thấp? Vốn doanh nghiệp chỉ đạt 28.773,00 triệu đồng (chiếm 2,40%) do huyện Vị Xuyên có địa hình đồi núi hiểm trở, hệ thống giao thông liên xã còn gặp khó khăn trong mùa mưa lũ và các chính sách ưu đãi đầu tư theo quy định hiện hành chưa đủ sức hấp dẫn các doanh nghiệp lớn tham gia liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp.

Cộng đồng cư dân địa phương đã đóng góp những nguồn lực cụ thể nào cho chương trình? Người dân địa phương đóng góp tổng nguồn vốn đối ứng tiền mặt đạt 145.424,52 triệu đồng (chiếm 12,13% tổng nguồn lực), đồng thời tự nguyện hiến hàng nghìn mét vuông đất sản xuất, đất ở và đóng góp hàng chục nghìn ngày công lao động để xây dựng các công trình giao thông nông thôn, nhà văn hóa thôn và kiên cố hóa kênh mương.

Quy trình chọn mẫu 120 phiếu điều tra thực địa trong luận văn được thực hiện theo nguyên tắc nào? Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng đại diện cho 3 nhóm xã: xã đạt chuẩn trên 15 tiêu chí (Việt Lâm), xã đạt 11 đến 15 tiêu chí (Phú Linh) và xã đạt dưới 10 tiêu chí (Lao Chải). Tại mỗi xã chọn ngẫu nhiên hệ thống 30 hộ dân (tổng 90 hộ) kết hợp cùng 15 cán bộ Ban quản lý NTM và 15 cán bộ đoàn thể để thu thập ý kiến khách quan.

Bài học kinh nghiệm quốc tế nào được luận văn đề xuất ứng dụng hiệu quả cho huyện Vị Xuyên? Đó là kinh nghiệm phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc năm 1970 với cơ chế Nhà nước chỉ hỗ trợ vật tư cốt lõi ban đầu để kích hoạt tinh thần tự giác, tự lực của nhân dân, trao toàn quyền cho cộng đồng thôn bản tự bàn bạc, tự quyết định và tự giám sát thi công các công trình hạ tầng cơ sở.

Kết luận

  • Công trình đã hệ thống hóa toàn diện khung lý luận về huy động và sử dụng hiệu quả 3 nhóm nguồn lực gồm tài lực, nhân lực và vật lực đất đai trong phong trào xây dựng nông thôn mới tại vùng Trung du và Miền núi phía Bắc.
  • Nghiên cứu đã phân tích chi tiết bức tranh thực trạng huy động 1.199.243,54 triệu đồng tại huyện Vị Xuyên giai đoạn 2012 - 2016, chỉ rõ tỷ trọng áp đảo của vốn tín dụng (54,03%) và sự hạn chế của vốn doanh nghiệp (2,40%).
  • Luận văn đã đánh giá sâu sắc thực trạng phân bổ nguồn vốn với trên 70% dành cho hạ tầng kỹ thuật và lượng hóa mức độ sẵn lòng tham gia của 90 hộ dân tại 3 xã đại diện khảo sát thực địa.
  • Tác giả đã đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ định hướng đến năm 2020 nhằm tái cơ cấu vốn cho phát triển sản xuất, khơi thông tín dụng, nâng cao năng lực cán bộ và phát huy quy chế dân chủ cơ sở.
  • Về kế hoạch tiếp theo, các cơ quan ban ngành địa phương cần khẩn trương thể chế hóa các khuyến nghị phân bổ ngân sách vào kế hoạch trung hạn; quý bạn đọc, nhà khoa học và các nhà quản lý quan tâm hãy tiếp tục tra cứu, trích dẫn và ứng dụng toàn văn công trình nghiên cứu vào thực tiễn phát triển nông thôn bền vững.