Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ xác định cộng đồng dân cư là chủ thể trực tiếp tham gia và thụ hưởng. Tuy nhiên, tại các huyện vùng cao đặc biệt khó khăn, việc hiện thực hóa vai trò này đang đối mặt với nhiều rào cản nội tại. Huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn có tổng diện tích tự nhiên 47.539,13 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm tới 96,9% tương ứng 46.064,63 ha nhưng địa hình bị chia cắt mạnh bởi núi cao hiểm trở, nằm cách trung tâm thành phố Bắc Kạn 90 km về phía bắc. Với địa bàn gồm 10 đơn vị hành chính cấp xã, 118 thôn bản và dân số 31.283 người thuộc 7 dân tộc anh em cùng sinh sống gồm Tày, Mông, Dao, Nùng, Sán Chỉ, Kinh, Hoa, việc triển khai 19 tiêu chí nông thôn mới gặp vô vàn thách thức do xuất phát điểm kinh tế thấp và nguồn thu ngân sách địa phương hạn hẹp.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là phân tích thực trạng, cơ chế và mức độ huy động các nguồn lực cộng đồng bao gồm nhân lực, vật lực, tài lực, trí tuệ và sự đồng thuận xã hội trong tiến trình xây dựng nông thôn mới. Mục tiêu cụ thể là đánh giá đúng thực trạng triển khai chương trình tại Pác Nặm trong giai đoạn 2016 - 2018, nhận diện 6 nhóm nguyên nhân cốt lõi gây cản trở việc phát huy nội lực cơ sở, từ đó xác lập hệ thống giải pháp khả thi nhằm gia tăng tỷ trọng đóng góp ngoài ngân sách. Phạm vi nghiên cứu được triển khai tập trung tại 3 xã đại diện gồm Giáo Hiệu, Bộc Bố, Cổ Linh trong khung thời gian từ tháng 12/2017 đến tháng 2/2019.

Ý nghĩa khoa học của luận văn thể hiện ở việc cụ thể hóa khung phân tích sự tham gia của cộng đồng vào điều kiện đặc thù của vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. Về mặt thực tiễn, các kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ thực chứng giúp Ủy ban nhân dân huyện Pác Nặm và các cơ quan tham mưu điều chỉnh chính sách huy động sức dân, giảm thiểu tỷ lệ lãng phí nguồn lực đầu tư công và thúc đẩy hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển nông thôn dựa vào nội lực cộng đồng (Asset-Based Community Development - ABCD) do Jody Kretzmann và John McKnight khởi xướng năm 1993, kết hợp với các phát triển lý luận của Gord Cunningham năm 2006. Khung lý thuyết này khẳng định sự phát triển bền vững phải bắt đầu từ việc nhận diện và khai thác 5 nhóm nguồn lực sẵn có trong cộng đồng: nguồn vốn con người (kỹ năng, tri thức bản địa), nguồn vốn xã hội (niềm tin, sự gắn kết dòng họ), nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất đai, rừng), nguồn vốn vật chất (nhà xưởng, công trình hiện hữu) và nguồn vốn tài chính (tiết kiệm, tích lũy hộ gia đình).

Bên cạnh đó, luận văn áp dụng mô hình 4 cấp độ tham gia của Cohen và Uphoff (1979) bao gồm: tham gia ra quyết định, tham gia thực hiện, tham gia hưởng lợi và tham gia kiểm tra đánh giá; đồng thời đối chiếu với khung phân tích 3 hình thức tham gia của Oakley (1987) là đóng góp, tổ chức và trao quyền. Nghiên cứu cũng kế thừa có chọn lọc bài học thực tiễn từ phong trao Làng mới Saemaul Undong của Hàn Quốc năm 1970 và phong trào Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) của Nhật Bản, nơi chính quyền áp dụng nguyên tắc hỗ trợ có điều kiện và giảm dần trợ cấp tài chính để kích hoạt tính tự chủ của cư dân nông thôn. Hệ thống lý luận được chuẩn hóa dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam như Nghị định số 24/1999/NĐ-CP về huy động đóng góp tự nguyện, Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg về giám sát đầu tư của cộng đồng và Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được tích hợp từ hai kênh thông tin sơ cấp và thứ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tổng kết giai đoạn 2016 - 2018 của Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới huyện Pác Nặm, niên giám thống kê huyện năm 2017 và hồ sơ địa chính của các xã. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa bằng bảng hỏi cấu trúc trên cỡ mẫu 135 hộ gia đình và 30 cán bộ chuyên trách cấp xã, thôn tại 3 xã nghiên cứu là Giáo Hiệu, Bộc Bố và Cổ Linh, nâng tổng dung lượng mẫu khảo sát lên 165 đối tượng.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên kết hợp phân nhóm mục tiêu được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cao cho các mức thu nhập hộ gia đình, thành phần dân tộc thiểu số và vị trí địa lý từ trung tâm đến vùng sâu, vùng xa. Phương pháp xử lý dữ liệu sử dụng phần mềm thống kê để thực hiện thống kê mô tả (tần số, tỷ số phần trăm, giá trị trung bình) và phân tích so sánh chéo. Việc lựa chọn phương pháp phân tích này xuất phát từ yêu cầu phải định lượng hóa chính xác mức độ tham gia thực tế, bóc tách cơ cấu các khoản đóng góp phi tiền tệ (ngày công, diện tích hiến đất) và lượng hóa sự chênh lệch nhận thức giữa đội ngũ cán bộ cơ sở với người dân địa phương. Quá trình thu thập và xử lý số liệu được tiến hành liên tục trong 15 tháng, từ tháng 12/2017 đến tháng 2/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu nguồn vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Pác Nặm giai đoạn 2016 - 2018 mất cân đối nghiêm trọng khi phụ thuộc gần như tuyệt đối vào ngân sách nhà nước. Số liệu thống kê toàn huyện cho thấy vốn ngân sách Trung ương và địa phương chiếm trên 85% tổng nguồn lực huy động, trong khi nguồn vốn tín dụng, doanh nghiệp và đóng góp tự nguyện của nhân dân chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn khoảng 3,5% đến 5,2%.

Thứ hai, hình thức đóng góp của cộng đồng có sự chuyển dịch rõ nét sang các nguồn lực phi tiền tệ do hạn chế về thu nhập khả dụng. Tại 3 xã khảo sát (Bộc Bố, Giáo Hiệu, Cổ Linh), người dân đã tham gia đóng góp hàng nghìn ngày công lao động và tự nguyện hiến trên 12.000 m2 đất thổ cư, đất sản xuất nông - lâm nghiệp để phục vụ mở rộng đường giao thông liên thôn và kiên cố hóa hệ thống thủy lợi nội đồng.

Thứ ba, sự tham gia của người dân vào chu trình quản lý chương trình còn mang tính thụ động và tập trung chủ yếu ở khâu thực thi. Kết quả khảo sát 135 hộ dân cho thấy có 68,1% hộ tham gia đóng góp ngày công lao động, nhưng chỉ có khoảng 23,7% hộ từng tham gia bàn bạc và đóng góp ý kiến cho đề án quy hoạch nông thôn mới của xã. Tỷ lệ người dân thực sự tham gia giám sát các công trình hạ tầng thông qua Ban giám sát đầu tư cộng đồng chỉ đạt dưới 18,5%.

Thứ tư, tồn tại khoảng cách phát triển và năng lực huy động nguồn lực đáng kể giữa các tiểu vùng. Xã Bộc Bố với lợi thế là trung tâm kinh tế - chính trị của huyện đạt kết quả huy động vốn nhân dân cao gấp 2,3 lần so với xã Cổ Linh - địa bàn có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo vượt ngưỡng 45%, địa hình đồi núi dốc trên 56,8% gây cản trở giao thương.

Thảo luận kết quả

Cơ cấu nguồn lực bất cập nêu trên xuất phát từ 6 nguyên nhân căn bản: (1) Nhận thức của một bộ phận cán bộ cấp cơ sở còn thụ động, chưa nắm vững quy trình điều phối có sự tham gia; (2) Công tác tuyên truyền còn mang tính hình thức, chưa chuyển tải bằng ngôn ngữ đồng bào dân tộc thiểu số; (3) Khung chính sách hỗ trợ và phân cấp quản lý tài chính cho thôn bản chưa đồng bộ; (4) Thu nhập bình quân đầu người tại Pác Nặm còn ở mức thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao khiến khả năng đóng góp tiền mặt bị giới hạn; (5) Quy trình lấy ý kiến nhân dân chưa khoa học, tạo tâm lý thờ ơ; (6) Tâm lý trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ trực tiếp từ các Chương trình 135 và Nghị quyết 30a vẫn còn đè nặng.

Khi đối chiếu với mô hình Saemaul Undong của Hàn Quốc, nơi tỷ lệ đóng góp của người dân tăng dần từ 30% lên trên 70% sau khi được Nhà nước kích hoạt bằng nguyên vật liệu ban đầu, có thể thấy Pác Nặm chưa thiết lập được cơ chế khuyến khích tương tự để khơi dậy lòng tự hào và tính tự quản của cộng đồng. Toàn bộ các tương quan số liệu này có thể được mô tả trực quan và sinh động thông qua biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng 5 nguồn vốn xây dựng nông thôn mới của huyện, kết hợp cùng bảng thống kê chéo so sánh tỷ lệ đóng góp ngày công và diện tích đất hiến giữa 3 xã khảo sát. Việc trực quan hóa này giúp các nhà quản lý nhận diện ngay các điểm nghẽn về dòng vốn và sự tham gia theo từng nấc thang phân tích của Cohen và Uphoff.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các tồn tại và tối ưu hóa việc huy động nguồn lực cộng đồng tại huyện Pác Nặm giai đoạn tiếp theo, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  • Đổi mới cơ chế tài chính và giao quyền tự chủ thi công cho cộng đồng: Ủy ban nhân dân huyện Pác Nặm cần ban hành quy chế cho phép chuyển đổi 100% nghĩa vụ đóng góp bằng tiền mặt của các hộ nghèo, hộ cận nghèo sang hình thức đóng góp bằng ngày công lao động. Đối với các công trình hạ tầng quy mô nhỏ dưới 1 tỷ đồng (đường ngõ xóm, kênh mương nội đồng, nhà văn hóa thôn), chủ đầu tư cấp xã bắt buộc phải giao cho Ban phát triển thôn và các tổ thợ địa phương trực tiếp thi công, phấn đấu nâng tỷ trọng vốn nội lực cộng đồng lên 12% - 15% tổng mức đầu tư toàn huyện vào năm 2023.

  • Nâng cao chất lượng thực thi Pháp lệnh dân chủ cơ sở: Ban chỉ đạo nông thôn mới các xã cần tái cấu trúc quy trình tham vấn cộng đồng theo hướng chia nhỏ các nội dung đề án thành từng chuyên đề ngắn gọn, dễ hiểu. Thời gian tổ chức họp dân phải được bố trí linh hoạt ngoài giờ sản xuất, bảo đảm tỷ lệ hộ dân tham gia bàn bạc và biểu quyết phương án quy hoạch đạt trên 85% trước khi cấp có thẩm quyền phê duyệt.

  • Đào tạo chuẩn hóa năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Trung tâm Chính trị huyện tổ chức tối thiểu 4 đợt tập huấn chuyên sâu mỗi năm cho 100% cán bộ thuộc Ban quản lý xã và Ban phát triển 118 thôn bản. Nội dung tập huấn tập trung vào kỹ năng truyền thông phát triển, phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) và quy trình quản lý tài chính minh bạch.

  • Đẩy mạnh công tác truyền thông đa ngữ và tôn vinh gương điển hình: Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Truyền thông huyện duy trì thời lượng phát thanh 3 buổi/tuần bằng tiếng phổ thông kết hợp tiếng Tày, tiếng Mông, tiếng Dao; lồng ghép nội dung vận động hiến đất vào các buổi sinh hoạt chi bộ, họp thôn. Ủy ban nhân dân huyện thiết lập quỹ khen thưởng thường niên, định kỳ biểu dương 100% các hộ gia đình tự nguyện hiến từ 100 m2 đất trở lên hoặc đóng góp trên 50 ngày công lao động.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Lãnh đạo Ủy ban nhân dân và cán bộ chuyên trách nông thôn mới cấp huyện, cấp xã: Tài liệu cung cấp góc nhìn thực chứng và hệ thống chỉ số định lượng giúp xây dựng kế hoạch phân bổ vốn đầu tư công hợp lý, nâng cao tỷ lệ hoàn thành 19 tiêu chí nông thôn mới trên địa bàn các huyện miền núi có điều kiện kinh tế tương đồng.

  • Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Nông nghiệp các tỉnh: Luận văn là cơ sở thực tiễn sinh động để đề xuất sửa đổi các thông tư hướng dẫn về cơ chế huy động vốn, mở rộng phân cấp quản lý công trình cho cộng đồng dân cư vùng đồng bào thiểu số.

  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Xã hội học: Nguồn tài liệu tham khảo phong phú về khung lý thuyết ABCD, phương pháp thiết kế bảng hỏi khảo sát thực địa và mô hình xử lý dữ liệu định lượng trong phát triển cộng đồng.

  • Trưởng thôn, Ban phát triển thôn và các tổ chức đoàn thể cơ sở: Cung cấp cẩm nang thực hành về kỹ năng vận động quần chúng hiến đất, quy trình tổ chức họp dân dân chủ và cách thức thành lập tổ giám sát cộng đồng đạt hiệu quả cao.

Câu hỏi thường gặp

  • Đề tài lựa chọn khảo sát thực địa tại những xã nào của huyện Pác Nặm? Nghiên cứu tiến hành khảo sát thực chứng tại 3 xã đại diện là Bộc Bố (trung tâm kinh tế, tiến độ xây dựng nhanh), Giáo Hiệu (mức độ phát triển trung bình) và Cổ Linh (xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao), bảo đảm bao quát đầy đủ các đặc trưng địa hình và xã hội học của toàn huyện.

  • Tại sao nguồn vốn đóng góp bằng tiền mặt của người dân Pác Nặm lại chiếm tỷ lệ rất thấp? Nguyên nhân chủ yếu do cơ cấu kinh tế thuần nông, diện tích đất sản xuất nông nghiệp manh mún chỉ chiếm 12,49% diện tích tự nhiên, tỷ lệ hộ nghèo tại nhiều thôn bản vượt 45%, dẫn đến thu nhập khả dụng của người dân chỉ đủ trang trải nhu cầu sinh hoạt thiết yếu.

  • Giải pháp nào hiệu quả nhất để vận động người dân đồng thuận hiến đất làm đường? Cần kết hợp vai trò của người có uy tín, già làng, trưởng dòng họ đến trực tiếp từng hộ gia đình để giải thích quyền lợi kinh tế lâu dài, đồng thời công khai mốc giới quy hoạch và tổ chức biểu dương kịp thời các hộ tiên phong trên hệ thống truyền thanh xã.

  • Khung lý thuyết nào đóng vai trò cốt lõi trong việc đánh giá sự tham gia của người dân? Luận văn tích hợp lý thuyết phát triển dựa vào nội lực cộng đồng (ABCD) của Kretzmann & McKnight cùng khung 4 cấp độ tham gia của Cohen & Uphoff (1979) nhằm đánh giá toàn diện từ khâu ra quyết định, đóng góp nguồn lực đến kiểm tra, giám sát.

  • Làm thế nào để giải quyết tâm lý ỷ lại vào ngân sách hỗ trợ của Nhà nước? Cần áp dụng nguyên tắc tài trợ có điều kiện tương tự mô hình Saemaul Undong: Nhà nước chỉ cung ứng vật tư chiến lược (xi măng, sắt thép), cộng đồng tự quản chịu trách nhiệm đóng góp cát sỏi, mặt bằng và nhân công xây dựng để tự tạo lập công trình.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định việc phát huy các nguồn tài sản nội sinh của cộng đồng là nhân tố mang tính quyết định đến sự thành bại và tính bền vững của Chương trình xây dựng nông thôn mới tại địa bàn vùng cao như Pác Nặm.
  • Thực trạng giai đoạn 2016 - 2018 cho thấy sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn ngân sách nhà nước (trên 85%), trong khi tiềm năng về ngày công lao động và hiến đất của nhân dân chưa được quy đổi và tổ chức quản lý một cách khoa học.
  • Nghiên cứu đã nhận diện chính xác 6 rào cản mang tính hệ thống, từ nhận thức cán bộ, công tác truyền thông đa ngữ đến quy trình dân chủ cơ sở chưa tạo điều kiện cho người dân tham gia khâu ra quyết định.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính đột phá, nhấn mạnh việc giao quyền nhận thầu công trình nhỏ cho Ban phát triển thôn và chuyển đổi nghĩa vụ đóng góp tiền mặt thành ngày công lao động.
  • Lộ trình thực hiện kiến nghị đặt mốc từ năm 2020 đến năm 2025, định hướng nâng tỷ trọng nội lực cộng đồng trong tổng vốn đầu tư lên mức 15%, tạo nền tảng vững chắc để huyện Pác Nặm đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới.