CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm về văn hóa và văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm văn hóa Trong suốt thời kỳ phát triển của nhân loại cho thấy VH hình thành và thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử, luôn thay đổi bằng cách bỏ đi những khía cạnh không phù hợp và dung nạp những khía cạnh mới phù hợp với trình độ kinh tế - xã hội đương thời. Năm 1982 tại hội nghị về VH của UNESCO tại Mehico, đã có hơn 200 định nghĩa về VH được đề cập đến và hiện nay con số đó đang ngày một tăng thêm.
Sở dĩ có nhiều quan niệm khác nhau về VH là do cách tiếp cận khác nhau của các nhà nghiên cứu dựa trên các vấn đề đa dạng và phức tạp của VH. Theo cách tiếp cận về ngôn ngữ, trong tiếng La tinh VH là “Cultus” bao hàm cả hai nghĩa là trồng trọt để phục vụ cuộc sống và giáo dục, dạy dỗ để một người trở nên tốt đẹp hơn. Trong tiếng Hán cổ, chữ văn là vẻ đẹp của tri thức, trí tuệ và nhân tính có được bằng sự tu dưỡng bản thân. Còn chữ hóa là dùng chữ văn để cảm hóa, giáo dục và hiện thực hóa trong thực tiễn.
Như vậy theo hai định nghĩa trên thì VH được xem là hoạt động tinh thần của con người hướng tới việc sinh ra các giá trị tốt đẹp trong cuộc sống. VH theo cách tiếp cận về quan niệm và cách hiểu thì VH có hai cách hiểu chính, đó là theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp: những giá trị tinh hoa bao gồm văn hoá nghệ thuật, những giá trị trong từng lĩnh vực như văn hoá kinh doanh, những giá trị đặc thù của từng vùng như văn hoá Tây Nguyên, những giá trị trong từng giai đoạn điển hình như văn hoá Đông Sơn. Theo nghĩa rộng: văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra.
Heriot cho rằng “VH là cái còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã học tất cả”. Còn theo quan điểm của E. Tylor (1871) thì ông đồng nhất giữa VH và văn minh, bao gồm các lĩnh vực liên quan đến đời sống con người: đi từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, hay một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội. Khi đó VH được hiểu một cách rất bao quát về tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người.
Tiếp theo, 6 Hồ Chí Minh (1943) cũng đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là VH. VH là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Với định nghĩa này, VH được hiểu theo nghĩa rộng, đó chính là sự tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra trong quá trình lịch sử nhằm phục vụ cho những nhu cầu của mình.
Còn theo tổ chức UNESCO (1986) cũng đã khẳng định “VH là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ, hiện tại, qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và cách thể hiện, đó là những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”. Với cách tiếp cận này thì VH là một tổng thể bao gồm những gì mà con người tạo nên, VH tạo nên nét đặc trưng bao gồm cả vật chất và tinh thần giữa các dân tộc với nhau. Tương tự, Đỗ Thị Phi Hoài (2009) cũng đề cập đến khái niệm VH theo hướng không quá trừu tượng, cũng không quá liệt kê cụ thể: “VH là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người tạo ra trong quá trình lịch sử”. Những định nghĩa về VH rất đa dạng, mỗi định nghĩa đề cập đến các lĩnh vực, các dạng thức, các thành tựu trong VH.
Nhưng nhìn chung, VH được hiểu là tập hợp các giá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo ra, giá trị vật chất và tinh thần đan xen lẫn nhau, trong sản phẩm vật chất có giá trị tinh thần và trong giá trị tinh thần được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Cũng cần hiểu thêm rằng không phải sản phẩm vật chất hay tinh thần nào được tạo ra cũng là VH, chỉ những cái đã thật sự kết tinh thành giá trị, tồn tại trong suốt quá trình lịch sử thì đó mới được xem là VH. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, một doanh nghiệp, một quốc gia muốn đảm bảo cho sự phát triển kinh doanh bền vững thì kinh doanh không chỉ đơn thuần là vì 7 lợi nhuận mà kinh doanh còn phải hướng đến các giá trị VH, góp phần định hướng đúng đắn cho sự phát triển bền vững của các chủ thể kinh doanh và cũng nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người. VHDN là một trong những nhân tố quan trọng trong các hoạt động kinh doanh và đã được minh chứng qua sự phát triển mạnh mẽ của các công ty Nhật trên đất Mỹ vào những năm 1970.
Mãi cho đến đầu thập niên 90, nhiều chuyên gia kinh tế trên thế giới bắt đầu có nhiều nghiên cứu sâu về VHDN. Theo ông Georges de Saite Marie “VHDN là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”. Tổ chức lao động quốc tế thì cho rằng “VHDN là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”. Schein định nghĩa VHDN “VHDN là tổng hợp các quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý với các môi trường xung quanh”.
Trên cơ sở kế thừa các định nghĩa VH kinh doanh của các học giả vừa nêu, Dương Thị Liễu (2013) đã đưa ra định nghĩa “VHDN là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của doanh nghiệp, chi phối hoạt động của mọi thành viên trong doanh nghiệp và tạo nên bản sắc kinh doanh riêng của doanh nghiệp”. Tóm lại, tương tự định nghĩa về VH thì định nghĩa về VHDN cũng rất đa dạng. Nhìn chung, VHDN được xem như là một hệ thống các giá trị tinh thần của doanh nghiệp, được hình thành qua quá trình phát triển của tổ chức, và quay trở lại quyết định và chi phối hành vi của các cá nhân trong cùng một tổ chức trước sự biến động của môi trường và đồng thời VHDN cũng được thể hiện trong các hình thái vật chất của các doanh nghiệp. Vai trò của văn hóa doanh nghiệp VHDN đóng vai trò như tài sản vô hình của các doanh nghiệp, có tác động tích cực đến sự phát triển của doanh nghiệp: VHDN tạo nên phong thái riêng của doanh nghiệp, giúp phân biệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.
VHDN bao gồm nhiều bộ phận hợp thành như 8 triết lý kinh doanh, lễ nghi, huyền thoại,… đã tạo nên những phong cách riêng, giúp phân biệt các doanh nghiệp với nhau. Đối với công ty có một nền VH mạnh, thường tạo được ấn tượng tốt với những người bên ngoài tổ chức, và khơi gợi được niềm tự hào đối với các thành viên trong tổ chức. VHDN tạo nên lực hướng tâm cho toàn doanh nghiệp: các thành viên trong doanh nghiệp nhận thức rõ về vai trò của mình trong doanh nghiệp, phấn đấu và gắn bó vì mục tiêu chung của doanh nghiệp, từ đó góp phần làm tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. VHDN khích lệ quá trình đổi mới và sáng tạo: các thành viên được khích lệ phát huy tính năng động, sáng tạo, từ đó làm động lực cho các thành viên gắn bó lâu dài và làm việc tích cực hơn.
Không phải môi trường VHDN nào cũng mang lại những tác động tích cực cho doanh nghiệp. Trong một số doanh nghiệp có môi trường VH không lành mạnh, không tích cực sẽ ảnh hưởng xấu đến tâm lý làm việc, ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân viên, đồng thời tác động tiêu cực đến kết quả kinh doanh của công ty. Do đó, VHDN tích cực đóng vai trò rất quan trọng trong việc tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng đến văn hóa doanh nghiệp Theo Đỗ Thị Phi Hoài (2009) nhận định quá trình hình thành VHDN rất lâu dài và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó có 3 yếu tố tác động quyết định nhất chính là VH dân tộc, người lãnh đạo và những giá trị học hỏi.
VH dân tộc ảnh hưởng đến VHDN là vì VHDN là một VH nhỏ thuộc VH dân tộc, từ đó có sự phản ánh của VH dân tộc lên VHDN. Các thành viên tập hợp với nhau, hoạt động cùng nhau vì mục tiêu chung của doanh nghiệp. Họ mang đến cho doanh nghiệp một phần VH dân tộc và những nét nhân cách của họ, tạo thành một phần VH cho doanh nghiệp họ đang công tác. Trong quá trình hình thành và phát triển lâu dài, người lãnh đạo cũng chi phối lên VHDN bởi hệ tư tưởng, tài năng, tính cách của họ.
Người lãnh đạo còn quyết định cơ cấu tổ chức và công nghệ của doanh nghiệp, sáng tạo ra các biểu tượng, ngôn ngữ, 9 niềm tin, nghi lễ, huyền thoại,… của doanh nghiệp. Theo thời gian, nếu có nhiều thế hệ lãnh đạo khác nhau trong cùng một doanh nghiệp thì cũng tạo ra những giá trị VH khác nhau cho chính doanh nghiệp đó, có thể làm thay đổi phần nào VH trong doanh nghiệp. Ngoài ra, còn có những giá trị học hỏi được trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Đây là những giá trị VH không thuộc VH dân tộc, cũng không phải do người lãnh đạo tạo ra, mà là do tập thể cán bộ nhân viên trong tổ chức tạo dựng nên.
Chúng được hình thành vô thức hoặc có ý thức, mang lại ảnh hưởng tiêu cực và tích cực cho doanh nghiệp.