CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT KHẨU BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG 1. Khái niệm chung về dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế bằng hàng không 1. Vị trí và đặc điểm của vận tải hàng không Ngành vận tải hàng không ra đời sau những phương thức vận tải khác, song đến thời điểm hiện nay, vận tải hàng không đóng vai trò quan trọng trong vận tải nội địa và quốc tế. Vận tải hàng không chiếm 10% khối lượng hàng hóa vận chuyển và 1/1000 khối lượng hàng hóa luân chuyển (t/km) trong buôn bán quốc tế.
Các hàng hóa chủ yếu vận chuyển bằng đường hàng không bao gồm: - Airmail: Thư từ, bưu phẩm, hàng lưu niệm, tranh ảnh. - Express: Chứng từ, tài liệu, sách báo, hàng cứu trợ khẩn cấp. - Airfreight: a) Hàng hóa có giá trị cao, quý, hiếm: Kim cương, vàng, bạc, đá quý, đồ trang sức. Tiền, sec, thư tín dụng, chứng từ có giá trị khác.
b) Hàng dễ hư hỏng: Hoa, quả tươi, rau, thực phẩm. c) Hàng nhạy cảm với thị trường như: Quần áo, đồ chơi, hàng phục vụ lễ. d) Động vật sống. Vận tải hàng không có những ưu điểm nổi trội so với những ngành vận tải khác: - Tuyến đường chủ yếu ở trên không trung, đường thẳng nối hai điểm vận tải với nhau, không phụ thuộc vào địa hình mặt đất, mặt nước nên tuyến đường thường ngắn hơn, tốn ít thời gian vận chuyển.
- Mạng lưới hệ thống các sân bay quốc tế hiện nay rất rộng và khá an toàn. - Tốc độ của vận tải hàng không cao, tốc độ khai thác lớn, thời gian vận chuyển nhanh: Vận tải hàng không có thể đạt tốc độ 900 đến 1000 km/h, gấp tốc độ của tàu biển 27 lần, của ô tô 10 lần, của tàu hỏa 8,3 lần. Tốc độ giúp con người tiết kiệm được thời gian và tiền bạc hơn khi vận chuyển hàng hóa trong quãng đường dài. - Vận tải hàng không an toàn hơn so với các phương tiện vận tải khác.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - Vận tải hàng không luôn đòi hỏi sử dụng công nghệ cao. - Vận tải hàng không cung cấp các dịch vụ tiêu chuẩn hơn hẳn so với các phương thức vận tải khác. - Vận tải hàng không đơn giản hóa về các chứng từ thủ tục so với các phương thức vận tải khác. Bên cạnh các ưu điểm trên, vận tải hàng không cũng có những hạn chế sau: - Giá cước cao: Gấp 8 lần đường biển, gấp 2 - 4 lần đường sắt và ô tô.
- Không phù hợp với vận chuyển hàng hóa có giá trị thấp, khối lượng lớn và cồng kềnh (<10. - Tính cơ động và linh hoạt kém. - Đòi hỏi vốn đầu tư lớn cho xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật. Định nghĩa giao nhận và người giao nhận Đặc điểm nổi bật của buôn bán quốc tế là người mua, người bán ở những nước khác nhau.
Sau khi hợp đồng mua bán được ký kết, người bán thực hiện việc giao hàng, tức là hàng hoá được vận chuyển từ nước người bán sang nước người mua. Để hàng hoá đến tận tay người mua được thì cần phải thực hiện hàng loạt các công việc khác liên quan đến quá trình chuyên chở như đóng gói, bao bì, lưu kho, đưa hàng ra sân bay, làm các thủ tục gửi hàng, xếp hàng lên tàu, chuyển tải hàng hoá ở dọc đường, dỡ hàng ra khỏi tàu và giao cho người nhận. Những công việc đó được gọi là dịch vụ giao nhận. Dịch vụ giao nhận (Freight Forwarding Service), theo Quy tắc mẫu của FIATA về dịch vụ giao nhận là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hoá cũng như dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hoá.
Theo Luật thương mại Việt Nam, giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc người giao nhận khác. Người kinh doanh dịch vụ giao nhận gọi là Người giao nhận (Forwarder/ Freight Forwarder/ Forwarding Agent). Người giao nhận có thể là chủ hàng, chủ tàu, công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 ty xếp dỡ, hay kho hàng, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất cứ người nào khác có đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá. Theo Luật thương mại Việt Nam thì người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá là thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá.
Trước đây, người giao nhận thường chỉ làm đại lý (Agent) thực hiện một số công việc do các nhà xuất nhập khẩu (XNK) uỷ thác như xếp dỡ, lưu kho hàng hoá, làm thủ tục giấy tờ, lo liệu vận tải nội địa, thủ tục thanh toán tiền hàng. Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế và sự tiến bộ kỹ thuật trong ngành vận tải mà dịch vụ giao nhận cũng được mở rộng hơn. Ngày nay, người giao nhận đóng vai trò quan trọng trong thương mại và vận tải quốc tế. Người giao nhận không chỉ làm các thủ tục hải quan hoặc thuê tàu mà còn cung cấp dịch vụ trọn gói về toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hoá.
Ở các nước khác nhau, người kinh doanh dịch vụ giao nhận được gọi tên khác nhau: Đại lý hải quan (Customs House Agent); Môi giới hải quan (Customs Broker); Đại lý thanh toán (Clearing Agent); Đại lý gửi hàng và giao nhận (Shipping and Forwarding Agent); Người chuyên chở chính (Pricipal Carrier). Vai trò của người giao nhận trong thương mại quốc tế Ngày nay, do sự phát triển của vận tải Container, vận tải đa phương thức, người giao nhận không chỉ làm đại lý, người uỷ thác mà còn cung cấp dịch vụ vận tải và đóng vai trò như một nhà vận tải chính (Principal). Người giao nhận làm chức năng và công việc của những người sau đây: Người chuyên chở (Carrier): Ngày nay trong nhiều trường hợp, người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở, tức là người giao nhận trực tiếp ký kết hợp đồng vận tải với chủ hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hoá từ một nơi này đến một nơi khác. Người giao nhận đóng vai trò là người thầu chuyên chở (Contracting Carrier).
Trường hợp nếu ký hợp đồng mà không trực tiếp chuyên chở nhưng nếu họ trực tiếp chuyên chở thì người giao nhận là người chuyên chở thực tế (Performing/ Actul Carrier). Người kinh doanh vận tải đã phương thức (Multimodal Transport Operator): LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Trong trường hợp người giao nhận cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức có nghĩa là việc vận chuyển hàng hóa được thực hiện bởi ít nhất hai phương thức vận tải từ nơi xếp hàng đến nơi dỡ hàng ở những nước khác nhau hoặc dịch vụ từ cửa đến cửa (Door to door service). MTO là người am hiểu về nhiều loại phương tiện vận chuyển, biết áp dụng nhiều phương thức vận chuyển để tổ chức quá trình vận tải một cách tốt nhất, an toàn nhất và tiết kiệm nhất. MTO cũng là người chuyên chở và phải chịu trách nhiệm đối với hàng.
Môi giới hải quan (Customs Broker): Thuở ban đầu, người giao nhận chỉ hoạt động trong nước. Nhiệm vụ của người giao nhận lúc bấy giờ là làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu. Sau đó họ mở rộng ra cả hoạt động xuất khẩu và dành chỗ chở hàng trong vận tải quốc tế hoặc lưu cước với các hãng máy bay theo uỷ thác của người xuất khẩu hoặc nhập khẩu, tuỳ thuộc vào hợp đồng mua bán. Trên cơ sở được Nhà nước cho phép, người giao nhận thay mặt người xuất khẩu, nhập khẩu để khai báo, làm thủ tục hải quan như một môi giới hải quan.
Người gom hàng (Cargo Consolidator): Ở Châu Âu, người giao nhận từ lâu đã cung cấp dịch vụ gom hàng để phục vụ cho vận tải đường sắt. Đặc biệt trong vận tải hàng hoá bằng Container, dịch vụ gom hàng không thể thiếu được nhằm biến lô hàng lẻ (LCL) thành lô hàng nguyên (FCL) để tận dụng sức trở của Container và giảm cước phí vận tải. Khi là người gom hàng, người giao nhận có thể đóng vai trò là người chuyên chở hoặc chỉ là đại lý. Đại lý (Agent): Trước đây, người giao nhận không đảm nhận trách nhiệm của người chuyên chở.
Anh ta hoạt động như một cầu nối giữa người gửi hàng và người chuyên chở như là một đại lý của người chuyên chở hoặc của người gửi hàng. Người giao nhận nhận uỷ thác từ chủ hàng hoặc từ người chuyên chở để thực hiện các công việc khác nhau như nhận hàng, giao hàng, lấy chứng từ, làm thủ tục hải quan, lưu kho, trên cơ sở hợp đồng uỷ thác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quyền và nghĩa vụ của người giao nhận hàng hóa Điều 235 Luật thương mại Việt Nam - 2005 quy định, trừ trường hợp có quy định khác, người làm hoạt động giao nhận hàng hoá có quyền và nghĩa vụ sau đây: - Được hưởng thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác.
- Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì thương nhân kinh doanh dịch vụ giao nhận có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng. - Khi xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng để xin chỉ dẫn. - Trường hợp có thoả thuận về thời gian cụ thể thực hiện nghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý. - Khi thực hiện việc vận chuyển hàng hoá, thương nhân kinh doanh dịch vụ giao nhận phải tuân thủ các quy định của pháp luật và tập quán vận tải.
Trách nhiệm của người giao nhận Khi người giao nhận đóng vai trò là đại lý, người giao nhận sẽ đương nhiên phải chịu trách nhiệm do lỗi lầm sai sót của bản thân mình. Lỗi lầm sai sót đó có thể là giao hàng không đúng những chỉ dẫn của khách hàng, gửi hàng sai địa chỉ, lập chứng từ nhầm, làm sai thủ tục hải quan, không thông báo hoặc thông báo muộn cho chủ hàng khiến hàng phải lưu kho làm ảnh hưởng tới chất lượng hàng hoá đồng thời làm tăng chi phí.