CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG 1. KHÁI QUÁT VỀ VẬN TẢI HÀNG KHÔNG 1. Khái niệm vận tải hàng không Vận tải hàng không (VTHK) nói theo nghĩa rộng là sự tập hợp các yếu tố kinh tế kỹ thuật nhằm khai thác việc chuyên chở bằng máy bay một cách có hiệu quả. Theo nghĩa hẹp thì VTHK là sự di chuyên của máy bay trong không gian hay cụ thê hơn là hình thức vận chuyên hành khách, hàng hóa, hành lý, bưu kiện từ một địa điêm này đến một địa điêm khác bằng máy bay.
Sản phẩm trong kinh doanh vận tải hàng không là loại hình dịch vụ. VTHK lại liên quan đến vận chuyên quốc tế, theo Nghị định thư Hague sửa đổi công ước Vacsava thì “vận chuyên quốc tế tức là bất kỳ việc vận chuyên nào mà theo sự thỏa thuận giữa các bên, nơi khởi hành và nơi đi đến, dù có hay không có sự gián đoạn vận chuyên hay chuyên tải, nằm trên lãnh thổ của hai quốc gia thành viên hoặc trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên nhưng có một điêm dừng đã thỏa thuận năm trên lãnh thổ của một quốc gia khác, dù nước đó không phải là nước thành viên”. Xuất hiện sau cùng trong lịch sử phát triên của ngành vận tải, vận tải hàng không là một ngành còn non trẻ. Phải đến những năm đâu của thế kỷ XX, ngành vận tải này mới băt đâu hoàn thiện và phát triên – khi mà trình độ khoa học kỹ thuật của con người đạt đến mức cho phép chinh phục được bâu trời và chế tạo ra cỗ máy có khả năng di chuyên trên không trung, chịu được trọng tải của một lượng hành khách và hàng hóa nhất định trong đó.
Mác (1946) ngành vận tải là một ngành sản xuất vật chất thứ tư của con người, và do vậy, nó cũng sáng tạo ra sản phẩm. Sản phẩm của ngành vận tải nói chung và vận tải hàng không nói riêng, là sự di chuyên hành khách, hàng hóa, hành lý và bưu kiện trong không gian. Tuy nhiên, không giống với các ngành sản xuất vật chất khác, ngành vận tải hàng không có những đặc điêm khác biệt về quá trình sản xuất, sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm. Môi trường sản xuất của vận tải hàng không là không gian, luôn di động chứ không cố định như trong các ngành sản xuất khác; sản phẩm của VTHK không tồn tại dưới hình thức vật chất, mà quá trình sản xuất và tiêu thụ diễn ra 7 đồng thời, do đó không có khả năng dự trữ sản phẩm vận tải đê tiêu dùng về sau mà chỉ có khả năng dự trữ năng lực vận tải; sản xuất trong VTHK là quá trình tác động về mặt không gian vào đối tượng chuyên chở chứ không phải tác động về mặt kỹ thuật, nên hình dạng, kích thước của đối tượng chuyên chở không bị thay đổi; quá trình sản xuất của ngành VTHK không tạo ra sản phẩm vật chất mới mà chỉ làm thay đổi vị trí của đối tượng chuyên chở (hàng hóa, bưu kiện) trong không gian, qua đó làm tăng giá trị của chúng.
Như vậy, ngành VTHK là một ngành thuộc loại hình dịch vụ tổng hợp, và sản phẩm trong ngành được xác định thuộc loại hình dịch vụ. Hiện nay Việt Nam hiện có các hãng hàng không trong nước khai thác thương mại như Vietnam Airlines, Vietjet Air, Jetstar Pacific, Vasco, Bamboo Airways, Công ty Cổ phân Hàng không Hải Âu. và khoảng hơn 70 hãng hàng không quốc tế đang khai thác thương mại đi và đến Việt Nam. Tuy còn non trẻ nhưng từ khi ra đời VTHK đã phát triên hết sức nhanh chóng do sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, cũng như sự phát triên về nhu câu vận chuyên tốc độ cao của nhân loại.
Khi mới ra đời, VTHK chỉ phục vụ cho nhu câu quân sự nhưng cho đến nay nó đã găn liền với nhu câu vận chuyên hàng hóa, hành khách và trở thành một ngành có vị trí rất quan trọng đối với nền kinh tế thế giới nói chung và thương mại quốc tế (TMQT) nói riêng. Đối tượng chuyên chở của vận tải hàng không Những năm gân đây, sự phát triên của VTHK vẫn không xa rời các mục tiêu quân sự, song hàng hóa và hành khách ngày càng được vận chuyên nhiều hơn, trở thành đối tượng chuyên chở chính và là mục tiêu phát triên của VTHK. Đối tượng chuyên chở của VTHK được chia làm 7 loại chính (trừ hành khách là đối tượng không được trình bày ở đây), đó là: - Thư, bưu kiện (Airmail): gồm thư từ, bưu kiện, bưu phẩm dùng đê biếu tặng, vật kỷ niệm. Đây là những mặt hàng này thường đòi hỏi phải vận chuyên nhanh và an toàn cao.
- Hàng chuyên phát nhanh (Express): gồm các loại chứng từ, sách báo, tạp chí và đặc biệt là hàng hoá cứu trợ khẩn cấp. - Hàng hoá thông thường (Commodity): Là những hàng hóa thích hợp vận chuyên bằng máy bay. Trong tổng khối lượng hàng hóa vận chuyên bằng máy bay thì 80% là hàng hoá thông thường, 16% là hàng chuyên phát nhanh và 4% là bưu phẩm, bưu kiện. Hàng hóa thông thường được vận chuyên bằng máy bay gồm các loại sau đây: 8 - Hàng hoá có giá trị cao (High Value Commodity): gồm những hàng hoá có giá trị từ 1.000 USD/kg trở lên; vàng, bạch kim, đá quý, các sản phẩm bằng vàng, bạch kim, đá quý., tiền, séc du lịch, thẻ tín dụng, chứng từ có giá; kim cương, các đồ trang sức bằng kim cương.
- Hàng hoá dễ hư hỏng do thời gian (Perishable): gồm những loại hoa quả tươi, hải sản, thực phẩm đông lạnh. - Hàng hoá nhạy cảm với thị trường (Market Sensitive Air Freight): gồm những loại hàng có tính thời vụ, hàng thời trang. - Động vật sống (Live Animals): gồm những động vật nuôi trong nhà, sở thú hoặc động vật phục vụ nhu câu thí nghiệm, con giống.Động vật sống khi vận chuyên đòi hỏi phải kiêm dịch, chăm sóc đặc biệt và phải vận chuyên nhanh đê đảm bảo chất lượng. Vai trò của vận tải hàng không Hiện nay, xu hướng toàn câu hoá, hội nhập kinh tế thế giới, phân công lao động quốc tế cùng với việc bùng nổ của TMQT trên phạm vi toàn câu dẫn tới giao lưu hàng hoá giữa các nước ngày càng tăng, VTHK có vai trò đặc biệt quan trọng trong TMQT.
Tuy chỉ chuyên chở khoảng 1% tổng khối lượng hàng hoá nhưng lại chiếm khoảng 30% trị giá trong mua bán quốc tế. Tính riêng trong năm 2020, khi tất cả các ngành vận tải đều bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, VTHK của Việt Nam chỉ chiếm một phân nhỏ (0,23%) trong tổng khối lượng hàng hóa vận chuyên nhưng chiếm đến 25% tổng giá trị xuất khẩu cả nước. Điều này chứng tỏ VTHK có vai trò rất lớn đối với việc vận chuyên hàng hoá đặc biệt là hàng hoá có giá trị cao. Các nhà kinh tế học đã ví rằng “ Nếu nền kinh tế là một cơ thê sống, trong đó hệ thống giao thông là huyết mạch thì vận tải là quá trình đưa các chất dinh dương đến nuôi các tế bào sống của cơ thê đó”.
Với ưu thế tuyệt đối về tốc độ so với các phương tiện vận tải khác, VTHK chiếm vị trí số 1 trong chuyên chở hàng hoá cân giao khẩn cấp, hàng giao ngay như: hàng mau hỏng, hàng cứu trợ khẩn cấp, súc vật sống và các loại hàng nhạy cảm với thời gian. Theo ước tính của Hiệp hội Vận tải Hàng không quốc tế (IATA), mỗi năm có khoảng 7,4 tỷ kiện hàng được vận chuyên và khoảng 2,5 triệu người được cứu sống mỗi năm nhờ văc xin được vận chuyên qua đường hàng không. Với tác dụng thu hẹp khoảng cách địa lý giữa các quốc gia nhanh chóng, VTHK chiếm vị trí quan trọng trong giao lưu kinh tế giữa các nước, là câu nối giữa các nền văn hoá của các dân tộc, là phương tiện chính trong du lịch quốc tế. Thực tế cho thấy 9 sự phát triên của ngành VTHK kéo theo sự phát triên của nhiều ngành kinh tế khác.
Với vai trò là phương tiện vận tải duy nhất có khả năng kết nối các vùng kinh tế trên toàn câu VTHK đã mở ra cơ hội hợp tác về kinh tế, chính trị và giao lưu văn hóa xã hội, giúp tăng cường liên kết kinh tế giữa các khu vực ngày càng sâu rộng hơn. Hơn nữa hàng không là biêu tượng cho sức mạnh quân sự, không quân của quốc gia đó, là biêu hiện cho sự phát triên về khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, tiên tiến. Do đó, xây dựng một hệ thống cơ sở vật chất hàng không vững mạnh không chỉ có ý nghĩa trước măt phục vụ kinh tế, xã hội, mà còn là sự chuẩn bị cho công cuộc bảo vệ lãnh thổ của đất nước nếu chủ quyền của đất nước đó bị xâm phạm. VTHK là măt xích quan trọng đê liên kết các phương thức vận tải, góp phân phát triên hệ thống vận tải đa phương thức, tạo ra khả năng kết hợp các phương thức vận tải với nhau nhằm khai thác tối đa lợi thế của các phương thức vận tải.
Đặc điểm của vận tải hàng không - Tuyến đường trong vận tải hàng không là không trung và hâu như là đường thẳng nối hai điêm vận tải với nhau, không phụ thuộc và địa hình mặt đất, mặt nước, không phải đâu tư xây dựng. Điều này giúp cho thời gian vận chuyên nhanh hơn, ít phụ thuộc vào vị trí địa lý, địa hình; nhưng lại phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng vùng, kinh phí cao hơn nhiều lân so với các phương thức vận tải khác. - Tốc độ vận chuyên của VTHK cao hơn hẳn các phương tiện khác: gấp 27 lân so với đường biên, 10 lân so với đường sông và 8,3 lân so với đường săt. Nhờ có công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, khoảng thời gian di chuyên bằng máy bay đã được rút ngăn đi rất nhiều so với các loại hình phương tiện khác nếu xét trên cùng một quãng đường dài.
Hơn nữa, việc bay theo những mạng đường bay trên không trung đã giúp cho vận chuyên bằng đường hàng không giảm bớt được các thủ tục quá cảnh khi qua biên giới giữa nhiều nước, thay vì phải làm nhiều lân thủ tục nếu đi bằng đường bộ hay đường săt. - Độ an toàn của VTHK được đánh giá là cao nhất trong các loại hình vận chuyên, bởi yếu tố an toàn luôn được đề cao hàng đâu và là kim chỉ nam thúc đẩy khoa học kỹ thuật và công nghệ của ngành phát triên không ngừng. Từ đội ngũ phi công, tiếp viên cho đến việc đảm bảo, giám sát về máy móc, nhiên liệu luôn phải tuân thủ nghiêm ngặt nhất theo quy định về an toàn bay.