CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN 1. Khái niệm về kiểm toán Cho đến nay, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm kiểm toán như: 4 Quan điểm thứ nhất, cho rằng kiểm toán chỉ là việc kiểm tra lại công tác kế toán, kiểm tra việc hạch toán kế toán và việc tuân thủ các nguyên tắc kế toán. Theo quan điểm này thì chủ thể thực hiện kiểm toán là các kiểm toán viên độc lập và phạm vi kiểm toán chỉ giới hạn ở lĩnh vực tài chính, không liên quan đến lĩnh vực khác.
Quan điểm thứ hai, lại đồng nhất hóa khái niệm kiểm toán với khái niệm kiểm soát. Theo quan điểm này kiểm soát được thực hiện đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp, còn kiểm toán được thực hiện với các đơn vị sản xuất kinh doanh. Nhưng phạm vi kiểm toán ở đây đã được mở rộng hơn, nó liên quan đến cả lĩnh vực tài chính và lĩnh vực phi tài chính. Chủ thể thực hiện kiểm toán có thể là kiểm toán viên độc lập và cũng có thể là những cán bộ thuộc chính đơn vị được kiểm toán.
Tuy nhiên, quan điểm về kiểm toán được sử dụng nhiều trong giảng dạy, nghiên cứu hiện nay thể hiện ở khái niệm sau: Kiểm toán là quá trình các kiểm toán viên độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng về thông tin được kiểm toán nhằm xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập. Để hiểu rõ hơn quan điểm về kiểm toán này chúng ta cùng giải thích một số thuật ngữ: Kiểm toán là một quá trình do Kiểm toán viên có đủ năng lực và độc lập tiến hành Kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập: Là những người có những yếu tố, kỹ năng, phẩm chất về chuyên môn, nghiệp vụ mà người kiểm toán viên cần phải có, để tổ chức và thực hiện được các cuộc kiểm toán có hiệu quả. Kiểm toán viên phải là người độc lập về chuyên môn, về kinh tế và độc lập trong các mối quan hệ gia đình. Tùy theo nội dung và tính chất của mỗi loại 5 kiểm toán cụ thể, mà mức độ độc lập có thể được đòi hỏi khác nhau.
Thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được Bằng chứng kiểm toán là các loại tài liệu, thông tin mà các Kiểm toán viên sử dụng để phân tích, xem xét và đưa ra kết luận trên đó. Quá trình kiểm toán thực chất là quá trình các Kiểm toán viên áp dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán để thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán, làm cơ sở cho các ý kiến nhận xét của họ. Các thông tin được kiểm toán: đó là những thông tin đã có sẵn nguồn bằng chứng cho kiểm toán và có căn cứ, làm cơ sở cho việc đánh giá thông tin. Thông tin được kiểm toán có thể là những thông tin được lượng hóa hoặc những thông tin có thể so sánh, đối chiếu hay kiểm tra lại được, có thể là những thông tin tài chính hay thông tin phi tài chính Thông tin có thể định lượng được: có thể là các báo cáo tài chính của NH, các tờ khai nộp thuế, hợp đồng tín dụng.
Xác định, báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin so với chuẩn mực Báo cáo: Là bước cuối cùng của một cuộc kiểm toán, trong đó báo cáo Kiểm toán là văn bản trình bày ý kiến nhận xét của kiểm toán viên, cung cấp thông tin cho người đọc, người sử dụng về mức độ tương quan và phù hợp giữa các thông tin của một đơn vị với các chuẩn mực đã được xây dựng. Chuẩn mực để đánh giá: Là cơ sở, thước đo để đánh giá các thông tin trong quá trình kiểm toán. Các chuẩn mực này rất phong phú và đa dạng, tùy thuộc vào từng loại kiểm toán, như quy định trong các văn bản pháp quy, các tiêu chuẩn định mức cho các lĩnh vực khác nhau. Ví dụ khi KTV đưa ra ý kiến BCTC của NH là trung thực phù hợp thì phải so sánh với các quy định về BCTC hiện hành, các chế độ kế toán.
6 Như vậy, thực chất của kiểm toán là việc kiểm tra và cho ý kiến nhận xét về mức độ phù hợp của thông tin được kiểm toán so với các tiêu chuẩn, chuẩn mực của thông tin đã được thiết lập, việc kiểm tra này được thực hiện bởi người độc lập và có năng lực. Vai trò của Kiểm toán trong nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, thông tin tài chính của doanh nghiệp không chỉ để báo cáo cho các Cơ quan Quản lý Nhà nước để kiểm tra và xét duyệt mà ngày nay các thông tin này cần cho nhiều người, được nhiều đối tượng quan tâm, khai thác sử dụng cho các quyết định kinh tế. Tuy ở nhiều góc độ khác nhau nhưng tất cả các đối tượng này đều có cùng nguyện vọng là có được các thông tin có độ chính xác cao, tin cậy và trung thực. Đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hoạt động kiểm toán ra đời và trở thành bộ phận cần thiết, không thể thiếu trong đời sống các hoạt động kinh tế.
Do yêu cầu quản lý và phục vụ cho quản lý nhằm cung cấp thông tin trung thực, tin cậy cho những người quan tâm đến đối tượng kiểm toán trên thị trường. Kiểm toán làm tăng mức độ tin cậy đối với các thông tin tài chính, góp phần lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế. Dựa vào kết quả kiểm toán, những người sử dụng BCTC được kiểm toán có được các thông tin khách quan, chính xác theo đó có thể đánh giá một cách đúng đắn tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là cơ sở cho các quyết định kinh tế của mình. Bên cạnh mục tiêu chính là đưa ra ý kiến về BCTC, các kiểm toán viên, thông qua quá trình kiểm toán, còn có thể đưa ra những kiến nghị giúp doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống kiểm soát, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý tài chính nói riêng cũng như hoạt động kinh doanh nói chung.
7 Trong các quan hệ kinh tế nhờ có kiểm toán mà các doanh nghiệp đã tìm được tiếng nói chung đó là sự tin cậy lẫn nhau, sự thẳng thắn, trung thực trình bầy về tình hình tài chính của mình. Đây là yếu tố hết sức quan trọng để đánh giá, lựa chọn đối tác kinh doanh. Đặc biệt trong quan hệ hợp tác kinh doanh với nước ngoài, nếu nhà đầu tư nước ngoài muốn tìm hiểu về hoạt động kinh doanh và đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp trước khi đầu tư, hợp tác kinh doanh thì chi phí cho cuộc kiểm toán sẽ hiệu quả và rẻ hơn nhiều so với chi phí mà hai bên phải bỏ ra để đàm phán, tự chứng minh về khả năng tài chính của mình. Đồng thời ý kiến khách quan của kiểm toán luôn đáng tin cậy hơn.
Ngay cả khi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập thì nhu cầu kiểm toán của các công ty này là tất yếu bởi yêu cầu quản lý của các đối tác nước ngoài trong doanh nghiệp. Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và ổn định củng cố hoạt động tài chính, kế toán nói riêng và hoạt động của đơn vị được kiểm toán nói chung. Thông qua kiểm toán khi phát hiện gian lân, sai sót, kiểm toán viên uốn nắn, chỉ dẫn và đề nghị doanh nghiệp sửa chữa, khắc phục, tư vấn giúp doanh nghiệp ổn định và kinh doanh hiệu quả, hạn chế các rủi ro. Chức năng của kiểm toán a.
Chức năng xác minh: nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu, tính pháp lí của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các báo cáo tài chính. Xác minh là chức năng cơ bản nhất gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt động kiểm toán. Bản thân chức năng này không ngừng phát triển và được thể hiện khác nhau tuỳ đối tượng cụ thể của kiểm toán. Đối với kiểm toán báo cáo tài chính, việc xác minh được thực hiện theo 2 mặt: ♦ Tính trung thực của các con số ♦ Tính hợp thức của các biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính Đối với các thông tin đã được lượng hoá: Thông thường, việc xác minh 8 được thực hiện trước hết qua hệ thống kiểm soát nội bộ.
Kết quả cuối cùng khi đã xác minh được điều chỉnh trực tiếp để có hệ thống thông tin tin cậy và lập các bảng khai tài chính. Theo đó, kiểm toán trước hết là xác minh thông tin. Đối với các nghiệp vụ (hoạt động), chức năng xác minh của kiểm toán có thể được thực hiện bởi hệ thống ngoại kiểm hay nội kiểm. Sản phẩm của hoạt động xác minh này thường là những biên bản.
Ở lĩnh vực này, kiểm toán hướng vào việc thực hiện chức năng thứ hai là bày tỏ ý kiến. Bày tỏ ý kiến: là đưa ra ý kiến nhận xét của kiểm toán viên về tính trung thực, mức độ hợp lí của các thông tin tài chính kế toán. Chức năng bày tỏ ý kiến có thể được hiểu rộng với ý nghĩa cả kết luận về chất lượng thông tin và cả pháp lí, tư vấn qua xác minh: ♦ Tư vấn cho quản lí nhà nước trong việc phát hiện sự bất cập của chế độ tài chính kế toán, qua đó kiến nghị với các cơ quan quản lí nhà nước xem xét, nghiên cứu, hoàn thiện cho phù hợp. ♦ Tư vấn cho việc quản lí của các đơn vị được kiểm toán.
Thông qua việc chỉ ra những sai sót, yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ, công tác quản lí tài chính, kiểm toán viên gợi mở, đề xuất các biện pháp khắc phục hoàn thiện đối với đơn vị, ngăn ngừa không cho chúng lặp lại trong tương lai. Trong nhiều trường hợp, thông qua kiểm toán, các tổ chức đơn vị doanh nghiệp đã kịp thời chấn chỉnh hệ thống kiểm soát nội bộ, chế độ quản lí tài chính ở đơn vị mình. Qua đó khai thác có hiệu quả hơn năng lực tài chính phát triển đơn vị. Chức năng này đang dần dần đóng vai trò quan trọng và chiếm ưu thế.