Phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và bố cục chính của đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về kế toán lợi thế thƣơng mại ở các doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chƣơng 2: Thực trạng kế toán lợi thế thƣơng mại tại công ty niêm yết ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán lợi thế thƣơng mại tại công ty niêm yết ở thành phố Hồ Chí Minh. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN LỢI THẾ THƢƠNG MẠI Ở CÁC DOANH NGHIỆP 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN LỢI THẾ THƢƠNG MẠI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Sự ra đời của lợi thế thƣơng mại Lợi thế thƣơng mại (Goodwill) là thuật ngữ đã xuất hiện trên thế giới từ rất lâu đời. Vào khoảng thế kỷ XVI, trong một bản chúc thƣ đƣợc viết năm 1571 với nội dung: “Tôi để lại cho John Stephens… toàn bộ lợi tức và đặc quyền (Goodwill) đối với khu mỏ đá của tôi”1. Từ năm 1571 đến giữa thế kỷ ý nghĩa về thuật ngữ goodwill đƣợc sử dụng trong giấy tờ pháp lý.
Dần dần thuật ngữ lợi thế thƣơng mại đƣợc sử dụng rộng rãi thông qua tòa án. Khái niệm đầu tiên về lợi thế thƣơng mại đƣợc đƣa ra trong phán quyết của toà án tuy nhiên phạm vi áp dụng còn hạn chế vì lúc bấy giờ hầu hết quy mô các công ty tƣơng đối nhỏ, hiệu quả hoạt động của công ty phụ thuộc phần lớn vào địa điểm của công ty cũng nhƣ khả năng của ngƣời chủ sỡ hữu. Năm 1859, Vice Chancellor Wood đƣa ra định nghĩa về lợi thế thƣơng mại: “Lợi thế thƣơng mại phải mang ý nghĩa là mọi lợi thế mà công ty cũ có đƣợc, bất kể là có quan hệ với cơ ngơi mà doanh nghiệp kiểm soát trƣớc đó, với tên gọi của công ty, hay với bất kỳ vấn đề gì đem đến lợi ích cho doanh nghiệp”2. Năm 1901, thuật ngữ lợi thế thƣơng mại bao gồm thƣơng hiệu, bằng sáng chế, bản quyền, ban quản trị, khách hàng, …nhƣ là một yếu tố vô hình.
Cuối thế kỷ XIX, cùng với sự gia tăng hợp nhất kinh doanh giữa các doanh nghiệp thuật ngữ lợi thế thƣơng mại phát triển mạnh mẽ trong kế toán và đƣợc ghi nhận trên sổ sách kế toán. Khái niệm, bản chất lợi thế thƣơng mại 1. Khái niệm Lợi thế thƣơng mại (Goodwill) cũng là một loại tài sản vô hình, nhƣng là một loại tài sản vô hình đặc biệt, chỉ xuất hiện khi có các nghiệp vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A). Hiểu nôm na thì Goodwill là phần chênh lệch giữa số 1 Michael Gautier Tearney (1971) trích lại, trang 11 2 Michael Gautier Tearney (1971) trích lại, trang 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 tiền mà một doanh nghiệp bỏ ra để mua một doanh nghiệp khác với giá trị tài sản thuần của doanh nghiệp đƣợc mua.
Ví dụ: Giả sử bây giờ Microsoft mua lại FPT với giá 1 tỷ USD. Toàn bộ giá trị tài sản hiện có của FPT là 500 triệu USD (cộng tất cả các loại nhà cửa, ô tô, máy tính, động sản, bất động sản (có thể bao gồm cả giá trị thƣơng hiệu của FPT hiện đang phản ánh trên BCTC, nếu có.), giá trị các khoản nợ của FPT là 100 triệu USD. Nhƣ vậy giá trị tài sản thuần của FPT là 400 triệu USD. Khoản chênh lệch giữa giá mà Microsoft bỏ ra mua FPT và giá trị tài sản thuần là 600 triệu USD, đó chính là Goodwill.
Bản chất Xét về nguồn gốc lợi thế thƣơng mại bao gồm hai loại là lợi thế thƣơng mại phát sinh do mua bán sát nhập doanh nghiệp và lợi thế thƣơng mại phát sinh từ nội bộ doanh nghiệp. Lợi thế thƣơng mại phát sinh từ mua bán sát nhập: Lợi thế thƣơng mại là chênh lệch giữa giá phí hợp nhất kinh doanh so với giá trị hợp lý của tài sản thuần đƣợc mua. Phần chênh lệch này đƣợc gọi là lợi thế thƣơng mại vì nó thể hiện phần giá trị trả thêm để có đƣợc lợi ích kinh tế chƣa có trên báo cáo tài chính của bên bị mua. Cũng chính vì vậy lợi thế thƣơng mại đƣợc ghi nhận là tài sản và đƣợc trình bày trên báo cáo tài chính hợp nhất.
Lợi thế thƣơng mại phát sinh từ nội bộ doanh nghiệp: là chi phí phát sinh để tạo ra lợi ích kinh tế trong tƣơng lai nhƣng không đủ tiêu chuẩn để ghi nhận là tài sản cố định vô hìn, không phải là nguồn lực có thể xác định cũng nhƣ không đánh giá đƣợc một cách đáng tin cậy và doanh nghiệp không kiểm soát đƣợc. Lý thuyết cơ bản về lợi thế thƣơng mại3 Trƣớc đây chƣa có sự thống nhất về khái niệm lợi thế thƣơng mại là nguyên nhân gây tranh cãi giữa các kế toán viên về vấn đề này. Năm 1971, Micheal Gautier Tearney đƣa ra 3 lý thuyết liên quan đến lợi thế thƣơng mại để tạo sự thống nhất về khái niệm lợi thế thƣơng mại: - Lý thuyết về lợi nhuận vƣợt mức của lợi thế thƣơng mại (excess profit concept of good will). 3 Trần Hồng Vân (2011), Kế toán lợi thế thương mại tại các doanh nghiệp Việt Nam, Chuyên đề nghiên cứu, Đại học Kinh tế TP.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 - Lý thuyết về phần còn lại của lợi thế thƣơng mại (residuum concept of good will). - Lý thuyết sức đẩy của lợi thế thƣơng mại (momentum concept of good will) 1. Lý thuyết về lợi nhuận vượt mức của lợi thế thương mại (excess profit concept of good will) Theo lý thuyết này lợi thế thƣơng mại đƣợc xem là giá trị hiện tại của lợi nhuận vƣợt mức đƣợc kỳ vọng trong tƣơng lai mà một doanh nghiệp có kỳ vọng sẽ đạt đƣợc chúng. Tuy nhiên lý thuyết lợi nhuận vƣợt mức hoàn toàn không đề cập đến tại sao lại phát sinh lợi nhuận vƣợt mức.Leake trong “Goodwill, Its Nature and How to value it (1914)” phát biểu rằng: “…lợi thế thƣơng mại xuất hiện bắt nguồn từ nhu cầu thông thƣờng và phổ biến là mong muốn có đƣợc siêu lợi nhuận (lợi nhuận vƣợt mức)… và nếu siêu lợi nhuận không có khả năng xảy ra thì sẽ không xuất hiện giá trị lợi thế thƣơng mại dƣới bất kỳ hình thức nào…”.
Theo lý thuyết này để xác định lợi nhuận vƣợt mức ngƣời ta áp dụng các phƣơng pháp sau: phƣơng pháp số năm lợi nhuận, phƣơng pháp số năm lợi nhuận vƣợt mức, phƣơng pháp định giá lợi nhuận vƣợt mức theo thang đối chiếu, phƣơng pháp định giá lợi nhuận vƣợt mức theo niên kim cố định. Lý thuyết về phần còn lại của lợi thế thương mại (residuum concept of good will) Theo lý thuyết này lợi thế thƣơng mại là một tài khoản định giá quan trọng, nó đƣợc xem nhƣ là giá trị hiện tại của các tài sản doanh nghiệp, nó ghi nhận phần chênh lệch giữa tổng giá trị một doanh nghiệp với tổng giá trị của tất cả các tài sản có thể nhận biết và định giá đƣợc một cách riêng biệt.Gynther trong “Some conceptualizing on Goodwill (1969)”: “…phần chênh lệch giữa (a) tổng giá trị hiện tại thuần của toàn bộ doanh nghiệp và (b) tổng giá trị hiện tại thuần của tất cả các tài sản thuộc về doanh nghiệp có thể định giá đƣợc trực tiếp…”. Theo lý thuyết này, lợi thế thƣơng mại đƣợc xác định bằng phƣơng pháp vốn hóa lợi nhuận có thể duy trì trong tƣơng lai (Capitalization of fiture maintainable profit). Khi mua ngƣời mua quyết định số tiền chi trả dựa trên tỷ suất lợi nhuận mà họ có đƣợc từ số tiền đầu tƣ vào doanh nghiệp.
Theo phƣơng pháp này, lợi thế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 thƣơng mại là giá trị toàn bộ doanh nghiệp mà ngƣời mua phải trả trừ đi giá trị thuần thuộc sỡ hữu của doanh nghiệp. Lý thuyết sức đẩy của lợi thế thương mại (momentum concept of good will) Theo lý thuyết này, lợi thế thƣơng mại là sức đẩy, đƣợc mua lại khi một doanh nghiệp mua một doanh nghiệp khác, sức đẩy ở đây hình thành từ các yếu tố cơ bản nhƣ: danh sách khách hàng, sản phẩm, các kênh marketing của doanh nghiệp. Theo lý thuyết này, doanh nghiệp đi mua, với mục đích có đƣợc sức đẩy của công ty đƣợc mua và sẵn sàng trả giá cao hơn giá trị tài sản của công ty này, từ đó tiết kiệm thời gian cho sự phát triển một hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Giá trị sức đẩy thể hiện thông qua các tài sản vô hình, không xác định đƣợc cũng nhƣ tính giá riêng biệt.
Phƣơng pháp để xác định lợi thế thƣơng mại theo lý thuyết sức đẩy có tên gọi là “phương pháp lựa chọn mua hay tự làm”, phƣơng pháp này xem giá trị trả cho lợi thế thƣơng mại là khoản doanh nghiệp chấp nhận trả để tránh rủi ro không đạt đƣợc các mục tiêu. Phân loại lợi thế thƣơng mại Vào ngày mua, doanh nghiệp mua cần phân bổ giá mua cho các yếu tố tài sản cũng nhƣ nguồn vốn của doanh nghiệp bị mua. Các yếu tố tài sản cũng nhƣ nguồn vốn đƣợc xác định theo tỷ lệ sỡ hữu của công ty mua từ đó xác định phần tƣơng ứng thuộc về cổ đông thiểu số theo giá trị ghi sổ của công ty bị mua và phần này thể hiện trong “Cổ đông thiểu số” bên nguồn vốn. Toàn bộ phần chênh lệch mua và phần phân bổ cho các yếu tố tài sản và nguồn vốn đƣợc gọi là lợi thế thƣơng mại hay bất lợi thƣơng mại.
Lợi thế thương mại Trƣờng hợp giá mua vƣợt quá phần sỡ hữu của công ty mua trong tài sản thuần của công ty bị mua thì phần chênh lệch này đƣợc coi là lợi thế thƣơng mại. Lợi thế thƣơng mại phát sinh từ việc mua doanh nghiệp thể hiện khoản tiền mà doanh nghiệp mua phải trả cho các lợi ích kinh tế dự tính thu đƣợc trong tƣơng lại. Các lợi ích kinh tế trong tƣơng lai có thể là kết quả của việc hợp nhất giữa các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 tài sản hoặc từ các tài sản riêng lẻ mà tự nó không đủ điều kiện đƣợc ghi nhận trong báo cáo tài chính nhƣng đã đƣợc doanh nghiệp mua tính đến nhƣ một khoản phải thanh toán trong việc mua doanh nghiệp. Lợi thế thương mại không từ mua lại Lợi thế thƣơng mại có đƣợc không phải do một doanh nghiệp mua lại một doanh nghiệp khác.
Lợi thế thƣơng mại có thể đƣợc hình thành từ nội bộ doanh nghiệp, doanh nghiệp có sỡ hữu tài sản cố định vô hình nhƣ y tín, danh tiếng nhƣng không đƣợc ghi nhận. Tuy nhiên, đối với lợi thế thƣơng mại không từ mua lại thì không đƣợc ghi nhận là tài sản và do đó không đƣợc trình bày trên báo cáo tài chính.