phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo khóa luận tốt nghiệp gồm 4 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp. Chƣơng 3 : Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Sản xuất cơ khí khung nhôm Long Thành Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Sản xuất cơ khí khung nhôm Long Thành 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Ngày nay, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc nền kinh tế nƣớc ta với chính sách mở cửa để thu hút vốn đầu tƣ và tạo động lực thúc đẩy kinh tế. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và đứng vững thì phải tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh tiêu thụ sản phẩm và nhận thức đƣợc tầm quan trọng của kế toán quản trị chi phí và giá thành. Xuất phát điểm của kế toán quản trị là kế toán chi phí, nghiên cứu chủ yếu về quá trình tính toán giá phí sản phẩm nhƣ giá phí sản xuất nhằm đề ra các quyết định cho phù hợp, xác định giá trị hàng tồn kho và kết quả kinh doanh theo từng hoạt động. Cho đến nay đã tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau vầ kế toán quản trị, tuy nhiên có thế hiểu kế toán quản trị là một khoa học thu thập, xử lý và cung cấp những thông tin định lƣợng động của đơn vị một cách cụ thể giúp các nhà quản lý trong quả trình ra quyết định liên quan dến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị.
Kế toán quản trị là công cụ quản trị, một công cụ rất quan trọng trong quá trình hoạch định và kiểm soát chi phí, thu nhập, tính toán hiệu quả quá trình kinh doanh của một doanh nghiệp ở bất kỳ hình thái kinh tế xã hội nào, thành phần kinh tế nào muốn đạt đƣợc hiệu quả cao cũng cần phải biết đƣợc thông tin về tình hình hoạt động kinh tế tài chính một cách kịp thời, đầy đủ, chính xác và trung thực. Trên cơ sở các thông tin đã thu nhận đƣợc, kế toán quản trị có nhiệm vụ phân tích, diễn giải, lập dự toán chi tiết để phục vụ cho nhà quản trị lựa chọn, quyết định phƣơng án tối ƣu nhất trong quản lý. Việc quyết định đƣa vào sản xuất sản phẩm nào đó, chi phí và lợi nhuận ở mức nào, tai sao chi phí thực tế với dự tính vƣợt và phải có biện pháp gì để giảm thấp chi phí, tăng lợi nhuận. Những vấn đề này chí có thể quyết định đƣợc khi nhà quản trị có đầy đủ số liệu do kế toán quản trị cung cấp.
Để làm đƣợc điều đó không thể không quan tâm đến kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm vì thế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này nhƣ: 6 Nguyễn Hồng Nhung (2016) trong nghiên cứu về: “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty CP xây dựng Sông Mã số 8”. đã xác định * Trong nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra các mặt hạn chế trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phầm như: Thứ nhất: Do sản phẩm xây lắp là cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất nhƣ lao động, máy móc. phải di chuyển theo địa điểm đặt công trình, từ đó mà công tác quản lý, sử dụng, hạch toán vật tƣ, tài sản cũng trở nên phức tạp. Quá trình luân chuyển chứng từ từ khi phát sinh đến khi kế toán thu thập đƣợc và lên sổ là khoảng thời gian không phải là ngắn.
Sỡ dĩ do có sự cách biệt về địa lý giữa nơi phát sinh chi phí ( công trƣờng thi công) và nơi tổng hợp chi phí để lên sổ ( phòng kế toán). Thứ hai: Cuối kỳ hạch toán, kế toán đã không kiểm kê lại vật tƣ còn lại, dễ gây thất thoát vật tƣ. Đối tƣợng tính giá thành là những công trình, hạng mục công trình, có lúc để kịp thời gian báo cáo, việc xác định đƣợc chi phí phát sinh diễn ra gấp gáp nên kết quả chƣa đƣợc chính xác. Thứ ba: Về tổ chức bộ máy kế toán: Công ty sử dụng kế toán trên máy vi tính nhƣng chƣa sử dụng phần mềm.
Tuy nhiên việc sử dụng nhƣ vậy còn nhiều bất cập, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu về cập nhật và xử lý thông tin. Thứ tư: Do đặc điểm sản xuất của ngành, Công ty có khối lƣợng công nhân lớn, bộ máy quản lý nhỏ nên việc quản lý toàn diện các công việc không đƣợc đảm bảo. Mặt khác, công ty phải thƣờng xuyên thuê lao động bên ngoài. Hầu hết những lao động này là lao động thời vụ có trình độ chuyên môn và tay nghề thấp do không đƣợc đào tạo, nên việc đảm bảo kỹ thuật thi công là không tốt và có thể kéo dài thời gian thi công của công trình.
* Nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kế chi phí sản xuất và tính giá thành tại đơn vị như sau: Thứ nhất: Với điều kiện thực tế hiện nay, để đẩy nhanh công tác hoàn thiện các thủ tục, hồ sơ, chứng từ nhƣ về công nợ, quyết toán khối lƣợng hoàn thành.thì bộ phận kế toán cần phải kết hợp chặt chẽ hơn nữa với các tổ đội thi công và các phòng ban chức năng của Công ty. Điều này sẽ giúp cho công tác kế toán đƣợc 7 thực hiện kịp thời theo đúng thời gian nhằm tránh công việc dồn nén dễ tạo ra kết quả thiếu chính xác. Thứ hai: Để tránh việc thất lạc, thất thoát hoặc chậm trẽ chứng từ, công ty cần có những biện pháp chặt chẽ khâu luân chuyển chứng từ nội bộ nhƣng vẫn đảm bảo tuần tự và phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận để kịp thời cung cấp chứng từ cho kế toán. Thứ ba: Trong xu thế của nền kinh tế thị trƣờng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì đòi hỏi các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp xây lắp nói riêng phải không ngừng cải tiến phƣơng pháp hoạt động của mình để có thể hội nhập với tốc độ phát triển của toàn cầu.
Do đó, Công ty nên áp dụng phần mềm kế toán máy vào công tác kế toán, nhằm làm giảm nhẹ công việc cho nhân viên kế toán trong Công ty. Hiện nay trên thị trƣờng có nhiều phần mềm kế toán mà Công ty có thể tham khảo để lựa chọn nhƣ: Vas, Fast, Misa, Vacom. Đồng thời, Công ty nên thuê tƣ vấn nâng cao tính năng, phát huy thêm các tác dụng của phần mềm kế toán, có những thay đổi phù hợp với chế độ, hệ thống sổ sách kế toán. Thứ tư: Vật tƣ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong giá thành nên việc quản lý chặt chẽ chi phí vật tƣ là rất cần thiết.
Tại mỗi công trình, Công ty có bố trí thủ kho, nhân viên kế toán. Vì vậy, Công ty nên tận dụng lực lƣợng lao động này để tổ chức hạch toán chặt chẽ hơn nữa quá trình nhập vật tƣ về công trƣờng và quá trình xuất vật tƣ cho thi công để làm sao tránh đƣợc sử dụng lãng phí, vừa đảm bảo đƣợc chất lƣợng công trình. Vì vậy, kế toán nên kiểm kê số vật tƣ còn lại tại chân công trình để kiểm tra đƣợc định mức sử dụng vật tƣ, đồng thời ghi giảm chi phí, đảm bảo tính phù hợp chính xác của giá trị sản phẩm dở dang cũng nhƣ giá thành công trình trong kỳ hạch toán (chi phí và giá thành của toàn bộ công trình hoàn thành không thay đổi nhiều). Trần Ngọc Anh (2016) với đề tài: “Hoàn thiện chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn” đã xác định Đề tài đã hệ thống những lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất và vận dụng những lý luận đó 8 vào thực tiễn để tìm hiểu và đánh giá thực trạng kế toán cho Công ty CP Xi măng Bỉm Sơn, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp nhất để hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty.
* Trong nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra các mặt hạn chế trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phầm như: Thứ nhất: Bộ máy kế toán giản đơn. Đối với một doanh nghiệp có bộ máy kế toán giản đơn, lƣợng nhân viên trong bộ máy kế toán ít sẽ làm cho khối lƣợng công việc của một kế toán nhiều, trách nhiệm đối với công việc cao, làm cho áp lực công việc đối với kế toán viên cao hơn, điều đó làm cho hiệu quả công việc kém. Khả năng thu thập số liệu có thể sẽ không kịp thời. Công việc trong hệ thống kế toán chƣa đƣợc phân công rõ ràng cho từng ngƣời, một ngƣời còn kiêm nhiều công việc, bao gồm cả công việc liên quan tới kinh doanh của công ty.
Thứ hai: Việc luân chuyển chứng từ. Do có nhiều công trình phải thi công lắp đặt ở xa công ty nên khi có các chứng từ phát sinh không chuyển về cho kế toán kịp thời, làm cho việc cập nhật chứng từ bị chậm trễ. Nhiều khi các chứng từ đến cuối tháng mới đƣợc chuyển về tới công ty. Điều này dẫn đến công việc ở phòng kế toán sẽ dồn hết vào cuối tháng dễ gây ra sai sót, nhầm lẫn về số liệu, gây ảnh hƣởng lớn đến việc cung cấp thông tin, tập hợp số liệu và quản lý chi phí.
Trong khi đó vào các thời điểm khác trong tháng công việc không nhiều, việc sử dụng nhân viên sẽ không đạt hiệu quả cao. Thứ ba: Kế hoạch thu mua, dự trữ, bảo quản nguyên vật liệu. - Về khâu thu mua: Khi có yêu cầu của tổ sản xuất về nguyên vật liệu thì công ty mới thực hiện nhập nguyên vật liệu nhƣ vậy sẽ rất bất cập và không đáp ứng kịp thời cho quá trình sản xuất, thi công công trình. - Khâu dự trữ bảo quản: Doanh nghiệp chƣa lập kế hoạch dự trữ nguyên vật liệu vì vậy khi cần nguyên vật liệu thì có những nguyên vật liệu chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu của sản xuất mà phải mua ngoài và đƣa vào quá trình sản xuất ngay nên khó quản lý và kiểm soát nguyên vật liệu gây thất thoát lãng phí nguyên vật liệu của công ty, làm tăng giá thành của sản phẩm.