Chương 1: ơ s lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại. Chương 2: Thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty ổ hần Thương mại và Du lịch Rạng Đông. Chương 3: ột số giải pháp hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty ổ hần Thương mại và Du lịch Rạng Đông. Sinh viên: Phạm Thị Giang MSV: 1064010293 4 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Hường : PH N NỘI DUNG C ƯƠ G 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁ Á À G VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINNH DOANH TRONG DOANH NGHIỆ T ƯƠ G MẠI.1 Đặc điểm nền kinh tế thị trường Việt Nam.
Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá là hai tổ chức kinh tế, xác hội đã tồn tại trong lịch sử. Trong nền kinh tế tự nhiên, người sản xuất cũng đồng thời là người tiêu dùng, các quan hệ kinh tế đều mang hình thái hiện vật. Bước sang nền kinh tế thị trường mục đích của sản xuất là trao đổi (để bán ), sản xuất là để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Chính nhu cầu ngày càng cao của thị trường, đã làm hình thành động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của sản xuất hàng hoá.
Trong nền kinh tế hàng hoá do xã hội ngày càng phát triển quan hệ hàng hoá, tiền tệ ngày càng m rộng cho nên sản phẩm, hàng hoá ngày càng phong phú và đa dạng góp phần giao lưu văn hoá giữa các vùng và địa phương. Dung lượng thị trường và cơ cấu thị trường được m rộng và hoàn thiện hơn. Mọi quan hệ kinh tế trong xã hội được tiền tệ hoá. Hàng hoá không chỉ bao gồm những sản phẩm đầu ra của sản xuất mà còn bao hàm cả các yếu tố đầu vào của sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường, người ta tự do mua và bán hàng hoá, trong đó người mua chọn người bán, người bán tìm người mua, họ gặp nhau giá cả thị trường. Giá cả thị trường vừa là thể hiện bằng tiền của giá thị trường và chịu sự tác động quan hệ cạnh tranh và quan hệ cung cầu hàng hoá. Kinh tế thị trường tạo ra môi trường tự do dân chủ trong kinh doanh, bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh thương mại nối liền giữa sản xuất với tiêu dùng.
Dòng vận động của hàng hoá qua khâu thương mại để tiếp tục cho sản xuất hoặc tiêu dùng cá nhân. Ở vị trí cấu thành của tái sản xuất, kinh doanh thương mại được coi như hệ thống dẫn lưu đảm đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất. Khâu này nếu bị ách tắc sẽ dẫn đến khủng hoảng của sản xuất và tiêu dùng. Kinh doanh thương mại thu hút trí lực và tiền của các nhà đầu tư để đem lại lơị nhuận.
Kinh doanh thương mại có đặc thù riêng của nó, đó là quy luật hàng Sinh viên: Phạm Thị Giang MSV: 1064010293 5 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Hường hoá vận động từ nơi giá thập đến nơi giá cao, quy luật mua rẻ bán đắt, quy luật mua của người có hàng hoá cho người cần. Kinh doanh thương mại là tiền đề để thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển. Qua hoạt động mua bán tạo ra động lực kích thích đối với người sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, tổ chức tái sản xuất hình thành nên các vùng chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá. Thương mại đầu vào đảm bảo liên tục của quá trình sản xuất, thương mại đầu ra quy định tốc độ và quy mô tái sản xuất m rộng của doanh nghiệp.
Kinh doanh thương mại kích thích nhu cầu và luôn tạo ra nhu cầu mới,thương mại làm nhu cầu trên thị trường trung thực với nhu cầu, mặt khác làm bộc lộ tính đa dạng và phong phú của nhu cầu.2 Đặc điểm của hoạt động bán hàng trong doanh nghiệp thương mại. Hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại là hoạt động phân phối hàng hoá trên thị trường, buôn bán hàng hoá của từng quốc gia riêng biệt hoặc giữa các quốc gia với nhau. Nội thương là lĩnh vực hoạt động thương mại trong từng nước, thực hiện quá trình lưu chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất, nhập khẩu tới nơi tiêu dùng. Hoạt động thương mại có đặc điểm chủ yếu sau: - Lưu chuyển hàng hoá trong kinh doanh thương mại bao gồm hai giai đoạn mua hàng và bán hàng, qua khâu chế biến làm thay đổi hình thái vật chất của hàng.
- Đối tượng kinh doanh thương mại là các loại hàng hoá phân công theo từng ngành: hàng vật tư, thiết bị (tư liệu sản xuất kinh doanh); hàng công nghệ; hàng lương thực, thực phẩm chế biến. - Quá trình lưu chuyển hàng hoá được thực hiện theo hai phương thức bán buôn và bán lẻ, trong đó: bán buôn là bán hàng hoá cho các tổ chức bán lẻ, tổ chức sản xuất kinh doanh hoặc tổ chức xuất khẩu để tiếp tục quá trình lưu chuyển của hàng, bán lẻ là bán hàng cho người tiêu dùng cuối cùng. Bán buôn và bán lẻ hàng hoá có thể thực hiện bằng nhiều hình thức: bán thẳng, bán trực tiếp qua kho, gửi bán qua đơn vị đại lý, bán trả góp, hàng đổi hàng. Sinh viên: Phạm Thị Giang MSV: 1064010293 6 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Hường Tổ chức đơn vị kinh doanh thương mại có thể theo một trong các mô hình: tổ chức bán buôn, tổ chức bán lẻ, chuyên doanh hoặc kinh doanh tổng hợp, chuyên môi giới.
các quy mô tổ chức: quầy, cửa hàng, công ty, tổng công ty.và thuộc mọi thành phần kinh tế kinh doanh trong lĩnh vực thương mại. - Đặc điểm về hoạt động: hoạt động kinh tế cơ bản của kinh doanh thương mại là lưu chuyển hàng hoá. Lưu chuyển hàng hoá là sự tổng hợp các hoạt động thuộc quá trình mua bán, trao đổi và dự trữ hàng hoá. - Đặc điểm về hàng hoá: hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại bao gồm các vật tư, sản phẩm có hình thái vật chất cụ thể hay không có hình thái vật chất mà doanh nghiệp mua về với mục đích để bán.
- Đặc điểm về phương thức lưu chuyển hàng hoá: lưu chuyển hàng hoá trong kinh doanh thương mại có thể theo một trong hai phương thức đó là bán buôn và bán lẻ. - Đặc điểm về tổ chức kinh doanh: tổ chức kinh doanh thương mại có thể theo nhiều mô hình khác nhau như tổ chức bán buôn, bán lẻ. - Đặc điểm về sự vận động của hàng hoá: sự vận động của hàng hoá trong kinh doanh thương mại cũng không giống nhau,tuỳ thuộc vào nguồn hàng, ngành hàng, do đó chi phí thu mua và thời gian lưu chuyển hàng hoá cũng khác nhau giữa các loại hàng hoá. Như vậy chức năng của thương mại là tổ chức và thực hiện việc mua bán, trao đổi hàng hoá nhằm phục vụ đời sống và phục vụ sản xuất.3 Các phương thức án h ng v thanh t án chủ ếu.1 ác phương thức bán hàng.1 Phương thức án hàng t c tiếp.
- Phương thức bán hàng trực tiếp: là phương thức giao hàng cho người mua trực tiếp tại kho, tại các cửa hàng của doanh nghiệp. Sản phẩm khi bàn giao cho khách hàng được chính thức coi là tiêu thụ và đơn vị bán mất quyền s hữu về số hàng này. Sinh viên: Phạm Thị Giang MSV: 1064010293 7 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Hường Phương thức bán buôn. Bán buôn là phương thức bán hàng với số lượng lớn cho đơn vị thương mại, các doanh nghiệp sản xuất để thực hiện việc bán ra hoặc gia công, chế biến sau đó bán cho người tiêu dùng.
Doanh nghiệp thường sử dụng các phương thức bán buôn: Bán buôn qua kho: Là phương thức bán buôn hàng hoá đã nhập về kho của doanh nghiệp thương mại. Bán buôn vận chuyển thẳng: Là phương thức bán hàng mà theo đó doanh nghiệp mua hàng của bên cung cấp để giao bán thẳng cho người mua. Phương thức bán lẻ. Bán lẻ là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, các tổ chức kinh tế mang tính chất tiêu dùng.
Đối với khâu bán lẻ thường sử dụng hai phương thức sau: Phương thức bán lẻ thu tiền tr c tiếp: Nhân viên bán hàng trực tiếp chịu hoàn toàn trách nhiệm vật chất về số hàng đã nhận để bán quầy hàng, đồng thời chịu trách nhiệm quản lý số tiền bán hàng trong ngày. Phương thức bán lẻ thu tiền tập trung: Theo phương thức này, nghiệp vụ thu tiền và nghiệp vụ giao hàng cho khách tách rời nhau. Mỗi quầy hàng hoặc liên quầy hàng bố trí một số nhân viên thu ngân làm nhiệm vụ thu tiền của khách hàng, viết hoá đơn để khách hàng nhận hàng quầy do nhân viên bán giao hàng. Cuối ca, cuối ngày nhân viên thu ngân làm giấy nộp tiền bán hàng còn nhân viên bán hàng căn cứ vào hoá đơn giao hàng cho khách hàng để kiểm kê lượng hàng còn lại, xác định lượng hàng đã bán rồi lập báo cáo bán hàng.2 Phương thức hàng g i án.
Theo phương thức này, bên bán sẽ xuất hàng cho các đơn vị, cá nhân làm đại lý. Số hàng gửi giao đại lý vẫn thuộc quyền s hữu của doanh nghiệp và được coi là hàng gửi bán. Chỉ khi nào nhận được thông báo của các đại lý, nhận tiền do đại lý thanh toán hoặc thanh toán định kỳ giữa hai bên thì sản phẩm xuất kho mới được coi là tiêu thụ, không thuộc quyền s hữu của doanh nghiệp. Với Sinh viên: Phạm Thị Giang MSV: 1064010293 8 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Hường phương thức này doanh nghiệp phải thanh toán cho đại lý khoản “hoa hồng” bán hàng và được tính vào chi phí bán hàng.3 Phương thức án hàng t ả góp.
Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì lượng hàng chuyển giao được coi là tiêu thụ. Khách hàng sẽ thanh toán một phần số tiền phải trả ngay thời điểm mua, số còn lại sẽ trả dần các kỳ sau và chịu một phần tỷ lệ lãi suất nhất định.2 ác phương thức th nh toán. Hiện nay các doanh nghiệp thương mại áp dụng 2 phương thức thanh toán sau: Thanh toán tr c tiếp bằng tiền mặt: hi người mua nhận được hàng từ doanh nghiệp thì sẽ thanh toán ngay bằng tiền mặt.Thông thường phương thức này được sử dụng trong trường hợp người mua hàng với khối lượng không nhiều và chưa m tài khoản tại ngân hàng.