CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Cơ sở lý thuyết về hoạt động mua hàng 1. Hoạt động mua hàng Theo truyền thống, mua hàng có thể được xem như là một quá trình mua để có được hàng hóa và nguyên liệu với đúng chất lượng và số lượng từ đúng nguồn, đúng nơi với giá hợp lý (Aljian, 1984; Lysons và Gillingham, 2003). Tuy nhiên, định nghĩa này đã thay đổi suốt thập kỷ qua và trở nên có tính chiến lược (Gadde và Håkansson, 1994; Freytag và Mikkelsen, 2007).
Theo van Weele (2010), hiện nay nó có thể được xem như việc quản lý các nguồn lực bên ngoài của một công ty, có thể giúp công ty điều hành, duy trì và quản lý các hoạt động chính và hoạt động hỗ trợ. Có một số hoạt động bao gồm bởi mua hàng mà có thể kết luận như tìm nguồn cung ứng nội bộ và bên ngoài, lựa chọn nhà cung cấp, thiết lập mối quan hệ với các nhà cung cấp, các hợp đồng đàm phán (Gadde và Håkansson, 2001; Burt et al, 2003;. Monczka et al, 2005;. Kể từ khi kinh doanh ngày càng trở nên cạnh tranh hơn, các nhà quản lý hàng đầu đã công nhận mua hàng như một đầu tàu kinh doanh chính yếu (van Weele, 2010).
Mua hàng có khuynh hướng lan tỏa rộng khắp trong toàn doanh nghiệp. Nói đến mua hàng là nói đến chức năng của công tác thu gom các đầu vào để sử dụng trong chuổi giá trị của doanh nghiệp, chứ không phải chỉ đơn thuần là các yếu tố đầu vào đó mà thôi. Công tác mua hàng đầu vào bao gồm nguyên vật liệu thô, các nguồn cung ứng và những sản phẩm để tiêu thụ khác cũng như các tài sản: máy móc, thiết bị thí nghiệm, thiết bị văn phòng và nhà xưởng (Porter, 1985). Vì vậy, mua hàng có liên quan chặt chẽ đến chi phí của công ty.
Hơn nữa, theo Porter (1985) cho dù những hạng mục mua hàng đầu vào này thường liên kết với các hoạt động sơ cấp, nhưng chúng xuất hiện trong mọi hoạt động giá trị và cả những hoạt động hỗ trợ. Chi phí của bản thân các hoạt động mua hàng thường chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chi phí, nếu không muốn nói là không đáng chú ý, nhưng nó lại tạo ra những ảnh hưởng rộng lớn trong vấn đề chi phí và khác biệt hóa nói chung LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 của doanh nghiệp. Hoạt động mua hàng tiên tiến có thể tác động mạnh đến chi phí và chất lượng của mua hàng đầu vào cũng như các hoạt động khác liên quan đến tiếp nhận, sử dụng đầu vào và sự tương tác với các nhà cung cấp. Quy trình mua hàng Bảng 1.
Mô hình quy trình mua hàng Bước Vai trò Thành tố 1. Xác định đặc tính hàng Thiết lập thang tiêu chuẩn Đặc tính chức năng và kỹ hóa thuật 2. Chọn lựa nhà cung ứng Đảm bảo lựa chọn nhà Đánh giá sơ bộ các nhà cung ứng đầy đủ cung ứng; Yêu cầu báo giá 3. Thỏa thuận hợp đồng Chuẩn bị hợp đồng Ký kết và đàm phán 4.
Đặt hàng Thiết lập chu trình đặt Chu trình đặt hàng hàng 5. Xúc tiến Thiết lập chu trình xúc Xúc tiến; Nghiệm thu “xử tiến lý sự cố” 6. Đánh giá Đánh giá nhà cung ứng Mối quan hệ với nhà cung ứng Nguồn: van Weele (2010) Quy trình là một hệ thống các bước kế tiếp nhau của những kỹ thuật mô tả làm thế nào một công việc hay một nhiệm vụ được thực hiện. Quy trình cũng liên quan đến chiến lược (Lysons và Gillingham, 2003).
Lysons và Gillingham (2003) thảo luận rất nhiều về quy trình mua hàng, nhưng họ đã không tạo ra một mô hình rõ ràng về mua hàng. So với van Weele (2010), Lysons and Gillingham (2003) đưa ra các thuật ngữ mang tính lý thuyết hơn, chẳng hạn như mua sắm điện tử, sổ tay mua hàng và đấu giá ngược. Cuối cùng, mô hình về mua hàng của van Weele (2010) đã được lựa chọn, bởi vì nó có một khuôn mẫu rõ ràng chỉ ra một hệ thống các bước liên tục của kỹ thuật mô tả việc mua hàng được thực hiện và nó sẽ giúp giải thích các kết quả thực nghiệm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Theo van Weele (2010), bước đầu tiên của mua hàng là xác định đặc tính của sản phẩm, bao gồm đặc tính chức năng cũng như đặc tính kỹ thuật.
Sau khi công ty biết về các đặc tính sản phẩm, họ sẽ bắt đầu chọn nhà cung ứng. Thông thường một số nhà cung ứng sẽ đáp ứng được yêu cầu sau một loạt kiểm tra. Sau đó, công ty sẽ yêu cầu nhà cung ứng báo giá. Việc quyết định nhà cung ứng nào sẽ được chọn phụ thuộc vào việc công ty chú trọng vào yếu tố nào hơn.
Sau khi công ty và nhà cung ứng đã chuẩn bị, họ sẽ thỏa thuận hợp đồng. Sau đó, công ty sẽ gửi đơn đặt hàng đến nhà cung ứng theo một vài chu trình quen thuộc. Sau đó nhà cung ứng sẽ xúc tiến chuẩn bị hàng hóa. Công ty có lẽ có vài kiểm tra trước khi sử dụng hàng hóa.
Giai đoạn cuối cùng là để đánh giá sự thể hiện của nhà cung ứng. Trong mô hình, mỗi bước có nhiều thuật ngữ hoặc yêu cầu một định nghĩa rõ ràng cho người đọc hiểu. Ví dụ, đặc tính chức năng hoặc kỹ thuật, chọn lọc nhà cung ứng, hợp đồng phụ và hợp đồng,. Do đó, chúng ta sẽ giải thích một vài trong số những thuật ngữ chưa được rõ ràng trên như sau: 1.
Đặc tính chức năng và đặc tính kỹ thuật Đặc tính chức năng là chức năng mà sản phẩm phải có cho người dùng. Đặc tính kỹ thuật là thuộc tính và đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm cũng như các hoạt động được thể hiện bởi nhà cung ứng (van Weele, 2010). Chọn lựa nhà cung ứng Chọn lựa và tìm kiếm nhà cung ứng mới có khả năng làm hàng chất lượng tốt là một trong những bước quan trọng trong hoạt động cung ứng nguyên vật liệu, vì các nhà cung ứng tốt có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả, chất lượng, độ tin cậy và sự sẳn có của nguyên vật liệu (Pearson và Ellram, 1995). Chọn lựa nhà cung ứng liên quan đến các tất cả các hoạt động được yêu cầu để chọn nhà cung ứng tốt nhất có thể và bao gồm cả việc xác định phương pháp của hợp đồng phụ, kiểm tra trình độ ban đầu của nhà cung ứng và nhiều thứ khác nữa (van Weele, 2010).
Thông thường người mua sẽ xem xét việc làm thế nào để đóng góp hiệu quả nhất đến quá trình tạo giá trị cùng với nhà cung ứng (Freytag and LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Theo van Weele (2010) việc chọn lựa nhà cung ứng thường có bốn bước sau: (1). Xác định phương pháp hợp đồng phụ (2). Kiểm tra tiêu chuẩn ban đầu nhà cung ứng (3).
Chuẩn bị yêu cầu báo giá (4.) Chọn nhà cung ứng 1. Hợp đồng Mặc dù việc thiết lập những mối quan hệ lâu dài và dựa vào niềm tin là quan trọng, tuy nhiên những đối tác “thật sự” thì khá hiếm trong thực tế (Wagner and Boutellier, 2002). Do đó, một cách an toàn cho các công ty là soạn thảo hợp đồng để tránh bất trắc (van Weele, 2010). Một cách khác là hợp tác mà không có hợp đồng, nó chủ yếu dựa vào niềm tin (Freytag and Mikkelsen, 2007).
Theo (Freytag and Mikkelsen, 2007), có hai loại hợp đồng thường được sử dụng. Một là, thỏa thuận hợp tác, cái kia là hợp đồng trọn gói. Một thỏa thuận hợp tác là một thỏa thuận chung, nó bao gồm thông tin về mục tiêu và đặc điểm của hợp tác. Nói đại khái, đây là dạng thỏa thuận mô tả các công ty muốn hợp tác như thế nào.
Hơn nữa, một thỏa thuận hợp tác có ba vai trò hay ý nghĩa. Một là, thỏa thuận hợp tác đơn giản thể hiện ý định tốt hơn là những thỏa thuận pháp lý. Hai là, thỏa thuận hợp tác có thể làm cho nhân viên ở cả hai công ty nhận thức được tầm quan trọng của sự hợp tác giữa họ. Và cuối cùng là, thỏa thuận hợp tác có thể hướng kỳ vọng của cả hai công ty theo một hướng nhất định (Freytag and Mikkelsen, 2007).
Một hợp đồng trọn gói thường được sử dụng để điều chỉnh mối quan hệ nhà cung cấp. Thông thường, thỏa thuận này có chứa hầu như tất cả mọi thứ, giống như thông số kỹ thuật của sản phẩm, điều kiện giao hàng và điều khoản chậm trễ và nhiều thứ khác. Những gì sẽ được chuyển giao và trong những điều kiện gì được kê khai rất chi tiết và rõ ràng. Hơn nữa, các thỏa thuận trọn gói cũng bao gồm các chỉ dẫn rõ ràng về sự cân bằng quyền lực giữa hai công ty.
Bằng cách này, các thỏa thuận trọn gói chứa các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 yếu tố thương mại lớn. Điều này đôi khi bị bỏ qua trong thực tế, nơi người mua, người bán hàng không hợp tác chặt chẽ với nhau (Freytag và Mikkelsen, 2007). Đặt hàng Đặt hàng đề cập đến việc đưa các đơn đặt hàng mua hàng tại một nhà cung ứng chống lại điều kiện sắp xếp trước đó hoặc khi đơn đặt hàng được đặt trực tiếp tại các nhà cung ứng mà không đặt câu hỏi về điều kiện của nhà cung ứng. Trong thực tế, hầu hết các giao dịch là mua lại trực tiếp hoặc mua lại có điều chỉnh.
Mua lại trực tiếp là để mua một sản phẩm đã biết từ một nhà cung ứng đã biết. Mua lại có điều chỉnh là để mua một sản phẩm mới từ một nhà cung ứng đã biết, hoặc một sản phẩm hiện có từ một nhà cung cấp mới (van Weele, 2010). Điều khoản thanh toán Khi tư liệu sản xuất được mua, đó là lúc thanh toán diễn ra. Nhìn chung, các phương pháp thanh toán ưa thích dựa trên hoạt động của nhà cung cấp.
Ví dụ, thanh toán 50% của tổng số tiền có thể được chuyển giao cho các nhà cung cấp khi 75% công việc được hoàn thành. Cuối cùng 50% được giữ lại cho đến khi công việc của nhà cung cấp đã đạt được sự hài lòng của khách hàng. Nó sẽ là hoàn hảo nếu mà số tiền tạm ứng có thể được một ngân hàng bảo lãnh, trong đó các nhà cung cấp đồng ý để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình (Van Weele, 2010). Mối quan hệ nhà cung ứng Do các yếu tố bên ngoài và nội bộ, mối quan hệ nhà cung cấp có thể là ngắn hạn, các mối quan hệ không hợp tác (quan hệ cách một cánh tay) và dài hạn, mối quan hệ hợp tác (đối tác) trong danh mục nhà cung cấp (Wagner và Boutellier, 2002).