Chương 1: Cơ sở lý luận về công đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác đảo tạo nguồn nhân lực tại Công ty Cé phan Tư vấn xây dựng 533 Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng 533 CHUONG 1 CƠ SỞ LY LUAN VE CONG TAC DAO TAO NGUON NHAN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP. TONG QUAN VE DAO TAO NGUON NHAN LUC 1. Khái niệm nguồn nhân lực trong doanh nghỉ. Nguồn nhân lực là nói đến lĩnh vực về nguồn lực con người, đây là một trong những nguồn lực quan trọng nhất đối với sự tồn tại và phát triển của doanh.
nghiệp và xã hội. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác ở chỗ nó chịu sự tác động của nhiều yếu tố về thiên nhiên, tâm lý kinh tế, xã hội. Nói một cách chỉ tiết hơn, nguồn nhân lực là các yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế xã hội và là tổng thể những con người trong độ tuôi lao động có khả năng lao động được huy động vào quá trình lao động sản xuất. Đối với một doanh nghiệp thì “Nguôn nhân lực của một tổ chức bao gồm tắt cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó” [3, tr.
Bên cạnh đó có khái niệm nhân lực: “Nhán lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguôn lực này gồm có thể lực và trí lực" [3, tr. Nguồn nhân lực của tô chức là tất cả các thành viên của tổ chức sử dụng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì, phát triển tổ chức. Thể lực chỉ sức khoẻ của thân thẻ, nó phụ thuộc vào sức vó. khoẻ của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và chế độ nghĩ ngơi.
Thể lực con người còn tuỳ thuộc vào tuổi tác, thời gian công. Trí lực là sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng con người Trong sản xuất kinh doanh, việc khai thác các tiềm năng về thể lực của con người là có giới hạn. Sự khai thác tiềm năng về trí lực của con người còn ở mức mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn của mỗi con người.
Nguồn nhân lực là nguồn lực căn bản, không bao giờ cạn kiệt của mọi tô chức. Các tô chức biết đào tạo và phát triển tốt thì nguồn nhân lực là nguồn lực đóng góp rất lớn và quyết định vào sự thành công trong hiện tại cũng như tương. lai của doanh nghiệp. Khi xem xét nguồn nhân lực trong doanh nghiệp hay trong tổ chức thông thường nó được xem xét trên các góc độ số lượng và chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực Số lượng nguồn nhân lực: được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô.
và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có liên quan mật thiết với chỉ tiêu quy mô và chất lượng dân số, tuôi thọ bình quân. Số lượng nguồn nhân lực được xác định bằng tổng số người đang có việc làm, số người thất nghiệp và số người lao động dự phòng. Chất lượng nguồn nhân lực: được biểu ở thể lực, trí lực, tỉnh thần thái ng cơ và ý thức lao động.
Nói đến chất lượng lao động của nguồn nhân. lực là nói đến hàm lượng trí tuệ, trong đó bao gồm trình độ tay nghề, phẩm chất đạo đức, tỉnh thần. ba mặt thể lực, trí t ệ, tình thần có quan hệ chặt chẽ với nhau và thống nhất cấu thành mặt chất lượng nguồn nhân lực. Cơ cấu nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ tỷ lệ giữa các loại lao động trong toàn bộ nguồn nhân lực của một doanh nghiệp.
Chẳng hạn như cơ cấu. về lao động trong các ngành nghề lĩnh vực khác nhau, cơ cấu về độ tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn. Cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý giữa các loại lao động có ý nghĩa rất quan trong đến việc nâng cao năng suất lao động và giảm chỉ phí trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Phân loại nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Có nhiều cách đê phân chia nguồn nhân lực trong một doanh nghiệp: Nếu chia theo hình thức hợp đồng: nguồn nhân lực được phân ra thành lao.
động không xác định thời hạn, lao động hợp đồng ngắn hạn và lao động thời vụ. Nếu chia theo đào tạo: nguồn nhân lực có thể chia thành hai loại là nguồn nhân lực đã qua đào tạo và nguồn nhân lực chưa qua đào tạo. Nếu phân chia theo cơ cầu chức năng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp sẽ được chia thành lao động làm công tác quản lý và lao động trực tiếp sản xuất. Lao động làm công tác quản lý: được hiểu đó là tất cả những người trong bộ máy quản lý tham gia vào việc thực hiện các chức năng quản lý Trong doanh nghiệp lao động quản lý bao gồm: cán bộ quản lý cao cấp, cán bộ.
quản lý trung cấp, cán bộ quản lý cấp cơ sở và các viên chức thừa hành. + Cán bộ quản lý cấp cao: là những người đảm nhiệm những chức vụ cao nhất trong doanh nghiệp, họ chịu trách nhiệm về sự tồn tại và phát triển của. doanh nghiệp và thực thi các công việc quản lý điều hành quan trọng nhất của doanh nghiệp. Cán bộ quản lý cao cấp có nhiệm vụ nghiên cứu để hoạch định chiến lược phát triển dài hạn của doanh nghiệp bao gồm từ việc xác định các mục tiêu chiến lược đến các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn, xây dựng các chính sách và các giải pháp để tổ chức thực hiện trong toàn doanh nghiệp.
Cán bộ quản lý cấp cao gồm có các chức danh: chủ tịch Hội đồng quản trị, Hội đồng. thành viên, tổng giám đốc, phó tổng giám đóc, giám đốc, phó giám đốc. + Cán bộ quản lý cấp trung: chỉ những cấp quản lý trung gian tiếp nhận các chiến lược, chính sách từ cán bộ quản lý cấp cao và biến chúng thành các kế hoạch, mục tiêu cụ thé để chuyển đến cán bộ cấp dưới (cán bộ quản lý cấp cơ sở) thực hiện. Trong doanh nghiệp có thể có nhiều cấp trung gian, điều này phụ thuộc.
vào các loại hình tô chức của doanh nghiệp. Cán bộ quản lý cấp trung gồm: trưởng, phó các phòng ban chức năng, các chuyên viên, tổ trưởng, đội trưởng trực thuộc giám đốc. + Cán bộ quản lý cấp cơ sở: là những cán bộ quản lý chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý, điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tại các đơn vị cơ sở của doanh nghiệp. Cán bộ quản lý cấp cơ sở bao gồm: Đốc công, tô trưởng, đội trưởng.
+ Các viên chức thừa hành: là mức bổ sung nhân viên hỗ trợ được đưa vào giữa cấp quản lý trung gian và cấp quản lý cơ sở. Đây là những người làm công tác chuyên môn, là những người tạo ra thông tin và trỉ thức như là một phần công việc của họ và tích hợp các thông tin và trí thức này vào hoạt động kinh 10 doanh. Họ là các kỹ sư, các nhà phân tích tài chính, marketing, các nhân viên lập kế hoạch sản xuất, các luật sư và nhân viên hạch toán. Họ là những người chịu trách nhiệm đối với việc tìm ra và phát triển các tri thức mới cho tô chức và tích hợp chúng vào tri thức hiện có.
Vì vậy, họ cần phải theo kịp với sự phát triển và các sự kiện liên quan đến nghiệp vụ của mình. Họ cũng đóng vai trò như các tác nhân thay đổi bằng cách đưa ra những thủ tục, công nghệ, hay quá trình mới Một nhóm lớn các nhân viên khác là các nhân viên văn phòng, nhân viên dữ liệu là những người hỗ trợ các nhân viên quản lý ở tất cả các cấp: nhân viên kế toán, thủ kho, thủ quỹ, nhân viên làm công tác hành chính, phục vụ. Lao động trực tiếp sản xuất: là những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh trực tiếp tạo ra các sản phẩm dịch vụ cho doanh nghiệp. Khái niệm về đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực được coi là một nguồn tài nguyên quan trọng nhất của mọi tổ chức, doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì yếu tố con người ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng hơn. tạo nguồn nhân lực là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự tồn tại và phát triển của mọi quốc gia cũng như doanh nghiệp. Đào tạo đó là “các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỳ năng của người lao động đẻ thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn "[3, tr.153] Qua khái niệm trên, đào tạo nguồn nhân lực gắn yếu tố con người với yếu tố công việc trong doanh nghiệp.
Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình thay đổi năng lực của yếu tố con người cho phù hợp với yêu cầu công việc của doanh nghiệp hiện tại cũng như trong tương lai. Năng lực của yếu tố con người được thê hiện bởi sự kết hợp và tương tác giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ của họ với công việc. Kiến thức: liên quan đến những thông tin mà người lao động có được và 1I lưu trữ trong bộ não, cách thức họ tô chức các thông tin này và sự hiểu biết của họ về thời gian và cách thức sử dụng các kiến thức này. Việc duy trì và cập nhật được những kiến thức mới đối với người lao động là rất quan trọng trong thị trường lao động cạnh tranh mạnh mẽ ngày nay.
Kỹ năng: là năng lực cần thiết để thực hiện các công việc và là kết quả đào tạo và kinh nghiệm của từng cá nhân. Kỹ năng của một cá nhân phản ánh việc các cá nhân này thực hiện có tốt hay không các công việc cụ thê. phụ thuộc vào kiến thức bởi vì trước khi thực hiện các công việc cụ thê này thì cá nhân đó phải biết được mình cần phải làm những công việc gì và khi nào. phải làm những việc này.
Tuy nhiên sự khác biệt giữa những việc cần làm và kết quả thực tế khi làm những công việc này. Kỳ năng là việc thực hiéi các công việc ở mức độ thuần thục, khác hẳn so với sự hiểu biết về những công việc phải làm.