Chương 1: Cơ sở khoa học để hoàn thiệnjquản trị chuỗi cung ứngjcủa doanh nghiệp kinh doanh chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh. Chương 2: Phân tích thựcjtrạng quản trị chuỗi cungjứng của Công ty Cổjphần QSR Management. Chương 3: Giảijpháp hoàn thiện hoạt động quảnjtrị chuỗi cung ứng của Công ty Cổjphần QSR Management. 8 CHƢƠNG 1: CƠjSỞ KHOA HỌC ĐỂ HOÀN THIỆN QUẢNjTRỊ CHUỖI CUNG ỨNGjCỦA DOANH NGHIỆPjKINH DOANH CHUỖI NHÀ HÀNG THỨC ĂN NHANH 1.
Khái quát về chuỗi cungjứng 1. Các khái niệm liên quan Chuỗi cung ứng là một thuật ngữ nổi lên vào cuối những năm 1980 và được sử dụng rộng rãi trong những năm 1990. Trước thời gian đó, hoạt động kinh doanh sử dụng các thuật ngữ khác như “hậu cần” và “quản lý hoạt động” để thay thế. Chuỗi cung ứng như là một hệ thống các nguồn lực từ con người, thông tinjvà hoạt động có liên quan tới việc chuyển sảnjphẩm hay dịch vụ từ nhà cung cấp đến khách hàng.
Hoạt động chuỗi cung ứng liên quan đến chuyển đổi các nguyênjvật liệu, bánjthành phẩm và các thành phần thành một sản phẩm hoàn chỉnh theo đúng tiêu chuẩn yêu cầu để giao cho khách hàng cuối cùng. Một vài định nghĩa liên quanjđến chuỗijcungjứng được đưa ra như sau: Theo Lambert, Stock và Ellramj(1998) – Fundamentals of jLogistics Management, một chuỗi cung ứng là sự sắp xếp, bố trí các công ty để mang sản phẩm và dịch vụ đến với thị trường. Theo Chopra và Meindle (2004) – Supply Chain, Second Edition, một chuỗi cung ứngjbaojgồm tất cả các giai đoạn cấu thành, trực tiếp hoặc gián tiếp, trong việc đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Chuỗi cung ứngjkhông chỉ baojgồm các nhà sản xuất và cung ứng, mà còn bao gồm các nhà vận tải, kho hàng, nhà bán lẻ và chính khách hàng.
Theo Ganeshan và Harrison (1995) – An Introductionjto Supply Chain Management, một chuỗi cungjứng là một mạng lưới của những điều kiện và những lựa 9 chọn phân phối được thực hiện dưới dạng chức năng mua sắm nguyên vật liệu, biến đổi những nguyên vật liệu này thành những sản phẩm trung gian hay thành phẩm, và sự phân phối những sản phẩm hoàn thiện này đến với khách hàng. Vậy từ các định nghĩa trên ta có thể rút ra định nghĩa chung về chuỗi cungjứng như sau: “Chuỗi cung ứng là tất cả các giai đoạn hình thành để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, bao gồm thông tin và các quá trình sản xuất, kinh doanh cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng”. Khái niệm về quản trị chuỗi cung ứng Có thể định nghĩa “Quản trị chuỗi cung ứng” là những việc làm để tác động đếnjhoạtjđộng của chuỗi cung ứng và đạt đượcjkết quả như mong muốn. Dưới đây là một vài định nghĩa của quản lýjchuỗi cungjứng: Theo Mentzer.
Dewitt, Keeber, Min, Nix, Smith và Zacharia (2001) – Defining Supply Chain Management, Quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợp một cách có chiến lược và có hệ thống giữa những chức năng kinhjdoanhjtruyền thống và những chiến thuật xuyên suốt trong phạm vi mộtjcông ty, với mụcjđích cải thiện kết quả kinh doanh dài hạn của các công ty đơn lẻ cũng như toàn bộ chuỗi cung ứng. Hugos (2011) – Essentials of Supply ChainjManagement, quản lý chuỗi cungjứng là sự kết hợp củajsản xuất, hàng tồn kho, địa điểm và vận tải giữa các bên tham gia trong một chuỗi cungjứng để đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa phản ứng với thị trường và hiệu quả kinh doanh để phục vụ thị trường tốt nhất. Tóm lại, quản trị chuỗi cungjứng bao gồm tất cả các hoạt động hậu cần truyền thống như là mua sắm, phân phối, bảo dưỡng và quản lý hàng tồn kho đồng thời bổ sung thêm các hoạt động như marketing, phát triển sản phẩm mới, tài chính, dịch vụ 10 khách hàng, tất cả được xem như một phần thiếtjyếu để phục vụ yêu cầu củajkhách hàng. Quản trị chuỗijcung ứng coi chuỗi cungjứng và các tổ chức trong nó là những thực thể đơn lẻ, mang lại những giải pháp hệ thống cho việc tìm hiểu và quản lýjcác hoạt động khácjnhau, cần thiết cho việc nối kết dòng sản phẩm và dịch vụ đểjphục vụ tốt nhất nhujcầu của khách hàng.
Các yêu cầu khác nhau của chuỗi cung ứng thường đòi hỏi những thứ đối lập nhau, nhưng khi những yêu cầu này đặt chung với nhau thì mới có có thể tìm ra cách để cân bằng những đòi hỏi khác nhau một cách hiệujquả nhất. Các hoạt động cơ bảnjtrong quản trị chuỗi cung ứng Những hoạt động của chuỗijcung ứng và mối tương quan giữa những hoạtjđộng này, có thể sử dụng mô hình SCOR (đã được đơn giản hóa) mô tả hoạt động của chuỗi cung ứng do Hội đồngjChuỗi Cung ứng (SupplyjChain Council Inc. Mô hình xác định bốn loại hoạt động sau của chuỗijcung ứng: - Lập kế hoạch - Tìm nguồn - Thực hiện - Phân phối 11 Hình 1. Bốn loại hoạt động của chuỗijcung ứng (Nguồn: Essentials of Supply Chain Management) 1.
Lập kế hoạch Lập kế hoạch là tất cả những việc cần thiết để lập kế hoạch vàjtổ chức các hoạt động trong ba loại hoạt hoạt động còn lại. Lập kế hoạch gồm một vài chi tiết như dự báo nhu cầu, địnhjgiá sản phẩm và quản lý hàng tồn kho. Những quyết định về quản trị chuỗijcung ứng dựa trên những dự báo nhằm xác định sản phẩm nào thị trường có nhu cầu, số lượng sản phẩm cần là bao nhiêu và khi nào nhu cầu đó sẽ có. Đó là cơ sở cho công ty lập kế hoạch cho các hoạt động nội bộ và hợp tác lẫn nhau để phụcjvụ nhu nhu cầu thị trường.
Các nhân tố dự báo nhu cầu gồm có: - Nguồn cung 12 - Nhu cầu - Đặc điểm sản phẩm - Môi trường cạnh tranh Khi đã có dự báo về nhu cầu, bước tiếp theo là lập kế hoạch đáp ứng các nhu cầu dự kiến và mục đích của nó là nhằm đáp ứng nhu cầu để mang lại lợi nhuận tối đa cho công ty. Kế hoạch tổng hợp sẽ trở thành khuôn khổ để từ đó những quyết định ngắn hạn về sản xuất, hàng tồn kho và phân phối sẽ được đưa ra. Những quyết định về sản xuất bao gồm các thông số có thể thiết lập trước như tốc dộ sản xuất, mức độ sử dụng năng lực sản xuất, quy mô nhân công, bao nhiêu giờ làm thêm và bao nhiêu thầu phụ sẽ được sử dụng. Quyết định về hàng tồn kho gồm bao nhiêu nhu cầu sẽ được đáp ứng ngay lập tức bằng hàng tồn kho đang có, bao nhiêu nhu cầu có thể đáp ứng sau và biến thành đơn hàng chưa thực hiện dược.
Quyết định về phân phối bao gồm những quyết định về cách thức và thời điểm mà sản phẩm được vận chuyển khỏi nơi sản xuất và đưa về nơi khách hàng sửjdụng hoặc mua sắm. Các công ty và chuỗi cung ứngjcó thể tác động đến nhu cầu theo thời gian bằng cách sử dụng giá, tùy thuộc vào việc giá được sửjdụng như thế nào mà công ty có thể tối đajhóa doanh thu hoặc tối đa hóajlợi nhuận gộp. Quảnjlý hàng tồnjkho là một tập hợp các kỹ thuật quản lý mức tồn kho trong các công ty khác nhau của chuỗi cungjứng. Mục đích nhằm giảm chi phíjhàng tồn kho càng nhiều càng tốt nhưng vẫn duy trì mức dịch vụ mà khách hàng yêujcầu.
Quản lý hàngjtồn kho lấy dữ liệu đầu vào chính từ những dự báo về nhu cầu đối với sản phẩm và giá cả của sản phẩm. Với hai dữ liệu đầu vào này, quản lý hàng tồnjkho là một quá trình liên tục của việc cân bằng hàng tồn kho sản phẩm để đáp ứngjnhu cầu và khai thác lợi thế kinh tế nhờ quy mô để có được giá sản phẩm tốt nhất. Cơ cấu chi phí của công ty trong chuỗijcung ứng sẽ là cơ sở đểjtính toán mức độ hàng tồn kho, dựa trên chi phí sảnjxuất và chi phí dự trữ hàng tồnjkho. Mua sắm Hoạt động chính của một người quản lý thu mua là chiến thắng những nhà cung cấp tiềm năng về giá cả và sau đó mua các sảnjphẩm từ nhà cung ứng có chi phí thấp nhất.
Đó là một hoạt động quan trọngjnhưng còn có các hoạt động khác đang trở nên quan trọngjkhông kém. Các hoạt động thu mua hiện nay được coi là một phần của chức năngjrộng hơn gọijlà mua sắm. Các chức năng mua sắm có thể đượcjchia thành năm loại hoạt động chính: - Muajhàng - Quảnjlý tiêu thụ - Lựajchọn nhà cungjcấp - Đàm phán hợp đồng - Quản lýjhợp đồng Mua hàngjlà hoạt động thường xuyên liên quan đến việc phát hành đơn đặt hàng cho các sản phẩm cần thiết. Quyết định mua hàng được thực hiện, đơn đưa hàng được đưa ra, các nhà cung cấp được liên lạc và đơn hàng được đặt, trong quá trình này có rất nhiều dữ liệu được truyền qua lại giữa người mua và nhà cung cấp: các mặt hàng, số lượng đặt, giá cả, ngày giao hàng, đại chỉ giao hàng, địa chỉ thanh toán và điều kiện thanh toán.
Việc đảm bảo truyền dữ liệu này diễn ra một cách kịp thời và không có lỗi là điểm quan trong trong hoạt động này. Quản lý tiêu thụ là phải nắm được lượng hàng hóa là bao nhiêu, của loại sản phẩm nào, được mua bởi ai và ở những mức giá nào. Mua sắm hiệu quả bắt đầu với sự hiểu biết về những loại sản phẩm đang được mua trong công ty cũng như trong mỗi đơn vị hoạt động. Mức tiêu thụ dự kiến đối với mỗi sản phẩm khác nhau nên được thiết lập và so sánh với thực tế tiêu thụ một cách thường xuyên.
Khi mức tiêu thụ trên hoặc 14 dưới mức dự báo các bên liên quan cần chú ý tìm hiểu nguyên nhân để đưa ra hành động hợp lý. Lựa chọn người bán hàng là quá trình liên tục để xác định khảjnăng mua sắm cần thiết nhằm hỗ trợ cho kế hoạch kinhjdoanh và mô hình hoạtjđộng của công ty, Đánh giá lựajchọn nhà cung cấp phải xem xét dựa trên giá sản phẩm, giá trị củajchất lượng sản phẩm, mứcjđộ dịch vụ, giao hàngjđúng lúc và hỗ trợ kỹ thuật của đối tác phù hợp với yêu cầu của công ty đặt ra. Đàm phán hợp đồng – khi yêu cầu mua hàng cụ thể phát sinh, hợp đồng phải được đàm phán với từng nhà cung cấp riêng lẻ trong danh mục nhà cung cấp tiềm năng. Đây là nơi mà mặt hàng cụ thể, giájcả và mức dịchjvụ được trình bày.
Các nhà cung cấp cần thiết lập khả năng chung như khả năng tiếp nhận sự kết nối điện tử cho mục đích nhận đơnjđặt hàng, gửi thôngjbáo giao hàng, gửijhóa đơn và nhậnjthanh toán… Tất cả những yêu cầu này phải được thương lượng ngoài vấn đề cơ bản củajsản phẩm và giá.