Nghiên Cứu Giải Pháp Hoàn Thiện Chính Sách Sản Phẩm Tại Đài Tiếng Nói Việt Nam

Nghiên cứu và đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách sản phẩm tại Đài Tiếng nói Việt Nam, nâng cao chất lượng và hiệu quả truyền thông.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2010

102
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SẢN PHẨM VÀ SẢN PHẨM DỊCH VỤ PHÁT THANH

1.1. Khái quát về sản phẩm và sản phẩm dịch vụ

1.2. Sản phẩm dịch vụ và các đặc trưng của sản phẩm dịch vụ

1.3. Hệ thống cung cấp dịch vụ

1.4. Chính sách sản phẩm

1.5. Chính sách chủng loại sản phẩm

1.6. Chu kỳ sống của sản phẩm

1.7. Nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới

1.8. Mối quan hệ giữa chính sách sản phẩm và một số chính sách khác trong marketing-mix

1.8.1. Chính sách giá

1.8.2. Chính sách phân phối

1.8.3. Chính sách xúc tiến và quảng cáo

1.9. Phát thanh và sản phẩm dịch vụ phát thanh

1.9.1. Các đặc tính của phát thanh

1.9.2. Sản phẩm phát thanh

1.9.3. Phát thanh hiện đại

1.9.4. Hệ phát thanh

1.9.5. Vai trò của thính giả đối với phát thanh

1.10. Xu hướng phát triển các dịch vụ phát thanh trên thế giới

1.10.1. Xu hướng về đổi mới tổ chức sản xuất

1.10.2. Xu hướng về ứng dụng khoa học công nghệ

1.10.3. Xu hướng tăng cường thương mại hóa báo chí

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

2. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM TẠI ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM

2.1. Giới thiệu về Đài Tiếng nói Việt Nam

2.2. Quyền hạn, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Đài Tiếng Nói Việt Nam

2.3. Nội dung các hoạt động kinh doanh tại Đài Tiếng Nói Việt Nam

2.4. Mục tiêu và chiến lược kinh doanh của TTQC và DVPT

2.5. Kết quả hoạt động kinh doanh

2.5.1. Doanh thu theo sản phẩm

2.5.2. Doanh thu theo đối tượng khách hàng

2.6. Phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu

2.7. Thực trạng chính sách sản phẩm tại Đài Tiếng Nói Việt Nam

2.7.1. Định vị sản phẩm

2.7.2. Quyết định sản phẩm

2.8. Thực trạng vận hành các sản phẩm phát thanh cơ bản của Đài TNVN

2.9. Chính sách phát triển sản phẩm mới

2.10. Phân tích các chính sách marketing hỗ trợ chính sách sản phẩm của Trung tâm Quảng cáo và Dịch vụ Phát thanh

2.10.1. Chính sách giá

2.10.2. Chính sách phân phối

2.10.3. Chiến lược xúc tiến hỗn hợp

2.11. Nhân tố ảnh hưởng đến việc kinh doanh các sản phẩm dịch vụ phát thanh

2.11.1. Môi trường vĩ mô

2.11.2. Môi trường vi mô

2.11.3. Các yếu tố nội bộ

2.12. Đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu

KẾT LUẬN CHƯƠNG II

3. CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM TẠI ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM

3.1. Những căn cứ để nghiên cứu, đề xuất giải pháp

3.2. Quan điểm phát triển

3.3. Các mục tiêu, các chỉ tiêu cơ bản của chiến lược phát triển

3.4. Phân tích những cơ hội, thách thức

3.4.1. Thách thức

3.5. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách sản phẩm tại Đài Tiếng Nói Việt Nam

3.5.1. Tăng cường triển khai phát thanh số

3.5.2. Nghiên cứu, điều tra thính giả một cách khoa học cho từng chương trình, đối tượng cụ thể

3.5.3. Giải pháp hỗ trợ cho phát triển sản phẩm

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chính Sách Sản Phẩm Tại Đài Tiếng Nói Việt Nam

Chính sách sản phẩm tại Đài Tiếng Nói Việt Nam (VOV) đóng vai trò quan trọng trong việc định hình và phát triển các sản phẩm phát thanh. Đài TNVN không chỉ là một đơn vị phát thanh mà còn là một tổ chức truyền thông đa phương tiện, cần có những chính sách sản phẩm phù hợp để đáp ứng nhu cầu của thính giả. Việc hoàn thiện chính sách sản phẩm sẽ giúp Đài TNVN nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng cường sự cạnh tranh trong bối cảnh thị trường truyền thông ngày càng khốc liệt.

1.1. Định Nghĩa Chính Sách Sản Phẩm Trong Ngành Phát Thanh

Chính sách sản phẩm trong ngành phát thanh được hiểu là tập hợp các quyết định liên quan đến việc phát triển, quản lý và quảng bá các sản phẩm phát thanh. Điều này bao gồm việc xác định loại hình sản phẩm, nội dung, và cách thức tiếp cận thính giả.

1.2. Vai Trò Của Chính Sách Sản Phẩm Đối Với Đài TNVN

Chính sách sản phẩm không chỉ giúp Đài TNVN định hình thương hiệu mà còn tạo ra giá trị cho thính giả. Việc phát triển các sản phẩm mới và cải tiến sản phẩm hiện có là cần thiết để duy trì sự hấp dẫn và cạnh tranh.

II. Những Thách Thức Trong Việc Hoàn Thiện Chính Sách Sản Phẩm

Đài TNVN đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc hoàn thiện chính sách sản phẩm. Sự cạnh tranh từ các phương tiện truyền thông khác như truyền hình và Internet đã tạo ra áp lực lớn. Để tồn tại và phát triển, Đài TNVN cần phải đổi mới và cải tiến không ngừng.

2.1. Cạnh Tranh Từ Các Phương Tiện Truyền Thông Khác

Sự phát triển mạnh mẽ của truyền hình và Internet đã làm giảm dần vị thế của phát thanh truyền thống. Đài TNVN cần phải tìm ra những cách thức mới để thu hút thính giả.

2.2. Nhu Cầu Thay Đổi Của Thính Giả

Thính giả ngày nay có nhu cầu cao hơn về nội dung và hình thức. Đài TNVN cần phải nghiên cứu và nắm bắt xu hướng để điều chỉnh sản phẩm cho phù hợp.

III. Phương Pháp Hoàn Thiện Chính Sách Sản Phẩm Tại Đài TNVN

Để hoàn thiện chính sách sản phẩm, Đài TNVN cần áp dụng một số phương pháp cụ thể. Những phương pháp này không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn tạo ra sự kết nối tốt hơn với thính giả.

3.1. Tăng Cường Nghiên Cứu Thính Giả

Việc nghiên cứu thính giả một cách khoa học sẽ giúp Đài TNVN hiểu rõ hơn về nhu cầu và mong muốn của họ. Điều này sẽ tạo cơ sở cho việc phát triển các sản phẩm phù hợp.

3.2. Đầu Tư Vào Công Nghệ Phát Thanh Mới

Đầu tư vào công nghệ phát thanh số sẽ giúp Đài TNVN nâng cao chất lượng phát sóng và mở rộng khả năng cung cấp dịch vụ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Chính Sách Sản Phẩm Tại Đài TNVN

Việc áp dụng chính sách sản phẩm tại Đài TNVN đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Các sản phẩm phát thanh mới đã thu hút được sự quan tâm của thính giả và tạo ra doanh thu ổn định cho Đài.

4.1. Kết Quả Từ Việc Triển Khai Sản Phẩm Mới

Các sản phẩm phát thanh mới đã giúp Đài TNVN tăng cường sự hiện diện trên thị trường và thu hút thêm nhiều thính giả.

4.2. Đánh Giá Hiệu Quả Của Các Chiến Lược Marketing

Các chiến lược marketing hỗ trợ cho chính sách sản phẩm đã giúp nâng cao nhận thức của thính giả về các sản phẩm của Đài TNVN.

V. Kết Luận Về Chính Sách Sản Phẩm Tại Đài Tiếng Nói Việt Nam

Chính sách sản phẩm tại Đài TNVN cần được hoàn thiện liên tục để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thính giả. Việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm sẽ là chìa khóa cho sự thành công trong tương lai.

5.1. Tương Lai Của Chính Sách Sản Phẩm

Đài TNVN cần tiếp tục đổi mới và sáng tạo trong việc phát triển sản phẩm để duy trì vị thế cạnh tranh.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Đài TNVN

Đài TNVN nên xem xét việc áp dụng các công nghệ mới và cải tiến quy trình sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

02/07/2025
Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách sản phẩm tại đài tiếng nói việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SẢN PHẨM VÀ SẢN PHẨM DỊCH VỤ PHÁT THANH 1.1 Khái quát về sản phẩm và sản phẩm dịch vụ 1.1 Khái niệm Định nghĩa tổng quát của Phillip Kotler về sản phẩm: “Sản phẩm được hiểu là bất kì cái gì có thể được cung ứng chào hàng cho một thị trường để tạo sự chú ý, đạt tới việc mua và tiêu dùng nó nhằm thoả mãn một nhu cầu hoặc mong muốn nào đó” [5]. Sản phẩm theo nghĩa rộng là tập hợp của các thuộc tính hữu hình, vô hình, bao gồm màu sắc, giá cả, chất lượng, thương hiệu, cộng với dịch vụ và tiếng tăm của người bán. Trong thực tế sản phẩm được xác định bằng các đơn vị sản phẩm. Đơn vị sản phẩm là một chỉnh thể hoàn chỉnh chứa đựng những yếu tố đặc tính và thông tin khác nhau về sản phẩm.

Người ta thường xếp các yếu tố đặc tính theo ba cấp độ nhưng chức năng marketing khác nhau: - Cấp độ cơ bản là sản phẩm theo ý tưởng: Ở cấp độ này chức năng cơ bản là trả lời câu hỏi về thực chất sản phẩm này thoả mãn những lợi ích cốt yếu nhất mà khách hàng theo đuổi là gì? Và đó chính là những giá trị mà nhà kinh doanh sẽ bán cho khách hàng, những lợi ích tiềm ẩn đó có thể thay đổi tuỳ những yếu tố hoàn cảnh của môi trường và mục tiêu cá nhân của khách hàng, nhóm khách hàng trong bối cảnh nhất định. Những nhà quản trị marketing phải tìm hiểu khách hàng để phát hiện ra những đòi hỏi về khía cạnh lợi ích khác nhau, tiềm ẩn trong nhu cầu của họ để tạo ra những sản phẩm có khả năng thoả mãn đúng và tốt nhất lợi ích mà họ mong đợi. - Cấp độ thứ hai là sản phẩm hiện thực. Đó là những yếu tố phản ánh sự có mặt trên thực tế của sản phẩm.

Những yếu tố đó bao gồm các chỉ tiêu phản ánh chất lượng, đặc tính, bố cục bề ngoài, tên nhãn hiệu cụ thể và đặc trưng bao gói. Thực tế, khi tìm mua lợi ích cơ bản khách hàng dựa vào những yếu tố này và cũng nhờ đó nhà sản xuất khẳng định được sự hiện diện của sản phẩm mình trên thị trường để người mua tìm đến doanh nghiệp, và qua đó họ phân biệt được sản phẩm này với sản phẩm khác. Nguyễn Thu Phượng CH 08-10 - 10 - Luận văn Thạc Sỹ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Phong cách Giao hàng Sản phẩm bổ sung Đặc điểm Kiểu dáng Sản phẩm hiện thực Tư vấn Lắp đặt Lợi ích cốt lõi Sản phẩm cốt lõi Hình 1.1 Ba cấp độ của sản phẩm [10] - Sản phẩm bổ sung: Đó là yếu tố như tính tiện lợi cho việc lắp đặt những dịch vụ bổ sung sau khi bán, những điều kiện bảo hành, điều kiện hình thức tín dụng… nhờ những yếu tố này đã tạo mức độ hoàn chỉnh khác nhau, trong sự nhận thức của người tiêu dùng về mặt hàng hay nhãn hiệu cụ thể.2 Sản phẩm dịch vụ và các đặc trưng của sản phẩm dịch vụ 1.1 Khái niệm - Dịch vụ bao gồm nhiều loại hoạt động và nghiệp vụ thương mại khác nhau. Phillip Kotler đã định nghĩa dịch vụ như sau: “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu.

Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất” [5, 522]. - Dịch vụ được hiểu là kết quả lao động có ích cho xã hội được thể hiện bằng giá trị sử dụng nhất định nhằm đáp ứng, tác động trực tiếp nâng cao chất lượng sản xuất vật chất và văn hóa của con người. Xã hội càng phát triển thì càng nhiều ngành dịch vụ mới ra đời đáp ứng nhu cầu của con người hướng tới văn minh tiện lợi. Cùng với sự phát triển của tiến bộ khoa học kĩ thuật nhiều kiểu dịch vụ phát triển, bản chất và mục đích kinh doanh trong lĩnh vực này hết sức đa dạng và phong phú.

Để hiểu sâu hơn về dịch vụ, chúng ta cần tìm hiểu thêm những vấn đề có liên quan tới sản xuất và cung ứng dịch vụ: Nguyễn Thu Phượng CH 08-10 - 11 - Luận văn Thạc Sỹ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Dịch vụ cơ bản: Là hoạt động dịch vụ tạo ra giá trị thoả mãn lợi ích cốt lõi của người tiêu dùng. Đó chính là mục tiêu tìm kiếm của người mua. Dịch vụ bao quanh: Là những dịch vụ phụ hoặc các khâu độc lập của dịch vụ được hình thành nhằm mang lại giá trị phụ thêm cho khách hàng. Dịch vụ bao quanh có thể nằm trong hệ thống của dịch vụ cơ bản và tăng thêm lợi ích cốt lõi hoặc có thể là những dịch vụ đối lập mang lại lợi ích phụ thêm.

Dịch vụ tiêu chuẩn: Bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ bao quanh của doanh nghiệp. Người tiêu dùng nhận được một chuỗi giá trị xác định nào đó phù hợp với chi phí mà khách hàng đã thanh toán. Dịch vụ tiêu chuẩn gắn liền với cấu trúc dịch vụ, với các mức và quy chế dịch vụ của những nhà cung cấp. Dịch vụ tổng thể: Là hệ thống dịch vụ bao gồm dịch vụ cơ bản, dịch vụ bao quanh và dịch vụ tiêu chuẩn.

Dịch vụ tổng thể thường không ổn định, nó phụ thuộc vào các dịch vụ thành phần hợp thành. Doanh nghiệp cung ứng cho khách hàng dịch vụ tổng thể. Khi tiêu dùng, dịch vụ tổng thể thay đổi, lợi ích cũng thay đổi theo.2 Đặc điểm cơ bản của dịch vụ Khác với hàng hoá thuần tuý, dịch vụ có 4 đặc trưng cơ bản đó là tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không lưu trữ và tính không chuyển giao sở hữu. - Dịch vụ có tính vô hình: Đây là đặc điểm cơ bản của dịch vụ.

Với đặc điểm này cho thấy dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể. Người ta không thể nhìn thấy, không thể sờ mó thấy dịch vụ trước khi tiêu dùng. Tuy vậy, sản phẩm dịch vụ vẫn mang nặng tính vật chất (chẳng hạn nghe bài hát hay, bài hát không tồn tại dưới dạng vật thể nào, không cầm được nó, nhưng âm thanh là vật chất). Tính không hiện hữu của dịch vụ gây rất nhiều khó khăn cho quản lý hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ, khó khăn cho Marketing dịch vụ và cho việc nhận biết dịch vụ.

- Dịch vụ có tính không đồng nhất: Sản phẩm dịch vụ không tiêu chuẩn hoá được, trước hết là do hoạt động cung ứng. Các nhân viên cung cấp dịch vụ không thể tạo ra được dịch vụ như nhau, trong những khoảng thời gian làm việc khác nhau. Hơn nữa khách hàng tiêu dùng- người quyết định chất lượng dịch vụ - lại đánh giá chất lượng dịch vụ dựa vào cảm nhận của họ. Trong những khoảng thời gian khác Nguyễn Thu Phượng CH 08-10 - 12 - Luận văn Thạc Sỹ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội nhau và những khách hàng khác nhau cũng có sự cảm nhận về một loại dịch vụ khác nhau.

Không hiện hữu Không chuyển Dịch vụ Không đồng giao sở hữu nhất Không lưu trữ Hình 1.2 : Các đặc điểm cơ bản của dịch vụ [4] - Dịch vụ có tính không chuyển giao sở hữu: Sản phẩm của dịch vụ gắn liền với việc tiêu dùng dịch vụ. Quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời. Sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời nên cung cầu dịch vụ không thể tách rời nhau và phải được tiến hành cùng một lúc. Khách hàng là một thành viên trong quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ, luôn có mặt trước, trong và sau khi dịch vụ được chuyển giao.

- Sản phẩm dịch vụ không thể dự trữ được: Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Do vậy dịch vụ không thể tồn kho, không cất trữ và không thể vận chuyển từ khu vực này tới khu vực khác. Đặc tính mau hỏng của dịch vụ quy định sản xuất và tiêu dùng dịch vụ phải đồng thời, trực tiếp, trong một thời gian giới hạn. Nếu không tuân thủ sẽ không có cơ hội mua, bán và tiêu dùng chúng.3 Hệ thống cung cấp dịch vụ Hệ thống sản xuất cung ứng dịch vụ bao gồm các yếu tố về vật chất và con người, được tổ chức chặt chẽ theo một hệ thống phối hợp hướng tới khách hàng, nhằm đảm bảo quá trình thực hiện sản xuất và tiêu dùng dịch vụ một cách có hiệu quả.

Các yếu tố trong hệ thống bao gồm: khách hàng, cơ sở vật chất cần thiết cho việc cung cấp dịch vụ, người cung cấp dịch vụ, hệ thống tổ chức nội bộ và bản thân dịch vụ và chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Mọi sự thay đổi một yếu tố đều dẫn tới sự thay đổi những mối liên hệ trong hệ thống. Nếu có sự thay đổi lớn ở một Nguyễn Thu Phượng CH 08-10 - 13 - Luận văn Thạc Sỹ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội vài yếu tố sẽ dẫn tới sự thay đổi của cả hệ thống và thay đổi loại hình dịch vụ. Hệ thống cung cấp dịch vụ có một số đặc điểm như hệ thống bao gồm các yếu tố vật chất có thể xác định.

Những yếu tố này bao gồm các điểm giao dịch, máy móc, trang thiết bị tác động tới dịch vụ. Thông qua nhữ ng yếu tố vật chất mà khách hàng có thể cảm nhận tốt hơn về dịch vụ, về chất lượng dịch vụ. Mặt khác, hệ thống bao gồm những yếu tố vô hình và hữu hình, những yếu tố tâm lý, tình cảm được đan xen vào nhau trong quá trình tạo ra dịch vụ: Tổ Cơ sở vật chất chức nội Dịch Khách Nhân viên giao bộ vụ hàng tiếp dịch vụ Không nhìn thấy Nhìn thấy Hình 1.3 Mô hình hệ thống cung ứng dịch vụ [6] - Hệ thống tổ chức nội bộ: bao gồm các quan hệ và các hoạt động nội bộ. Hệ thống tổ chức nội bộ sử dụng các phương tiện vật chất tác động vào hệ thống song không để lại sự hiện hữu.

Trung tâm của hệ thống tổ chức nội bộ là Ban giám đốc. - Nhân viên giao tiếp dịch vụ: Nhân viên giao tiếp dịch vụ là những người trực tiếp cung cấp dịch vụ, có mối tác động qua lại tới người sử dụng dịch vụ. Và dựa trên những phản hồi từ khách hàng, mà họ có thể cá thể hóa dịch vụ. - Cơ sở vật chất: Bao gồm các yếu tố vật chất xung quanh nơi diễn ra hoạt động dịch vụ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ