Mở đầu là New Zealand vào năm 1990, tiếp nối là các nước Canada (1991), Anh (1992), Australia (1993), Thụy Điển (1994),…. Nếu như đầu những năm 1990, chỉ có các nước công nghiệp phát triển theo đuổi LPMT thì đến cuối những năm 1990 đã có một số nền kinh tế mới nổi đi theo con đường này như Israel (1997), Brazil (1999), Chile (1999), Colombia (1999),.Nhìn chung động lực áp dụng LPMT thường đến từ các cuộc khủng hoảng kinh tế hoặc mong muốn cải tổ nền kinh tế như khủng hoảng Hệ thống tiền tệ Châu Âu, khủng hỏa tài chính Châu Á 1997. Nguyễn Thị Minh Tâm 13 K16NHA Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng Bảng 1. Lý do áp dụng CSTT LPMT(3) Các nước áp dụng Nhằm ứng phó Sự bất ổn của Gia nhập EMU Neo các kỳ CSLPMT với hoạt động tỷ giá hối đoái vọng lạm phát kinh tế nghèo nàn Brasil X X Chile X X CH Séc X X Israel X Nam Phi X X Australia X X Canada X Phần Lan X X New Zealand X X Tây Ban Nha X X Thụy Điển X Vương Quốc Anh X Nguồn: Tô Ánh Dương 1.
Điều kiện khi bắt đầu áp dụng CSLPMT Bảng 2. Điều kiện áp dụng CSTT LPMT(13) Quốc Các điều kiện tiên quyết đã được Các điều kiện tiên quyết bị bỏ qua gia thiết lập khi CSLPMT được áp dụng khi CSLPMT được áp dụng -Giá cả ổn định là mục tiêu hàng đầu và -Khả năng dự báo/mô hình hóa Tình NHTƯ độc lập trong việc sử dụng các -Sự am hiểu về cơ chế truyền tải trạng công cụ vào thời điểm đưa ra áp dụng -Không có các neo kéo (Ba Lan, chung IT Israel, Hungary) -Không bị áp chế tài chính -Độc lập về mục tiêu/pháp lý -Kiểm soát hợp lý lãi suất ngắn hạn -Thị trường tài chính phát triển tốt -Lạm phát thấp là một trong những mục -Độc lập không chính thức về mục Canada tiêu của CSTT tiêu -Công cụ CSTT độc lập -Không có cơ chế về trách nhiệm -Không bị áp chế tài chính giải trình chính thức -Kiểm soát hợp lý lãi suất ngắn hạn -Am hiểu về cơ chế truyền tải, các thi Nguyễn Thị Minh Tâm 14 K16NHA Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng trường tài chính phát triển tốt. Hệ thống tài chính lành mạnh, ổn định. -Đôc lập hoàn toàn về mục tiêu và công -Sự hiện diện của neo kép Chile cụ -Khả năng dự báo/mô hình hóa -Không bị áp chế tài chính -Hiểu biết cơ bản về cơ chế truyền -Kiểm soát hợp lý lãi suất ngắn hạn tải -Thị trường tài chính phát triển tốt -Không bị áp chế tài chính -Chỉ thị về ổn định giá cả CH Séc -Công cụ CSTT độc lập -Hệ thống ngân hàng yếu kém -Thực hiện CSTT hiệu quả với lãi suất-Không có kinh nghiệm dự báo về chủ đạo lạm phát -Thị trường tài chính phát triển tốt -Lòng tin và trách nhiệm giải trình thấp -Cơ cấu tổ chức không phù hợp -Hỗ trợ về chính trị thấp -Giá cả ổn định là mục tiêu hàng đầu và -Neo kép Hungary NHTƯ độc lập trong lựa chọ công cụ -Khả năng dự báo/mô hình đang -Hệ thống tài chính ổn định được thiết lập -Kiểm soát lãi suất ngắn hạn -Chưa am hiểu về cơ chế truyền tải -Thị trường tài chính phát triển tốt và sử dụng mô hình toán -Chưa thiết lập nguyên tắc tài chính -Không bị áp chế tài chính -Sự độc lập về pháp lý còn yếu Israel -Kiểm soát lãi suất ngắn hạn -Hiểu biết cơ bản về co chế truyền -Sự độc lập thực tế của NHTƯ ngày tải càng tăng -Khả năng dự báo/mô hình hóa -Thị trường tài chính phát triển tốt -Sự hiện diện của néo kép -Hệ thống tài chính ổn định -Cam kết về ổn định giá cả -Sự hiện diện của néo kép Ba Lan -Không bị áp chế tài chính -Khả năng dự báo chưa tốt -Kiểm soát hợp lý lai suất ngắn hạn -Hoạt động của cơ chế truyền tải -Công cụ CSTT độc lập chưa tốt -Thị trường tài chính phát triển -Số liệu đánh giá các diễn biến lạm -Hệ thống tài chính lành mạnh, an toàn phát còn hạn chế Nguồn: nghiên cứu của Freeman và Laxton Nguyễn Thị Minh Tâm 15 K16NHA Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng 1.
Kết quả đạt được Bảng 3. Một số chỉ tiêu vĩ mô các nước Mỹ Latinh giai đoạn 1999-2012(13) Nước Tăng trưởng Tỷ lệ lạm Mức biến Tăng tiền GDP phát động tỷ giá Argentina 2,9 14,0 5,4 16,0 Các nước không áp Venezuela 1,1 22,3 4,3 36,6 dụng CSTT LPMT Bình quân 2,0 18,2 4,8 26,3 Brazil 2,2 6,5 1,5 17,2 Chile 2,7 3,3 1,2 8,8 Các nước áp dụng CSTT Columbia 2,0 6,1 0,9 13,8 LPMT Mexico 1,2 5,8 1,0 10,0 Peru 4,0 2,6 1,2 10,0 Bình quân 2,4 4,9 1,18 12,0 Nguồn: Dữ liệu IMF Bảng 4. Chấm điểm một số chỉ tiêu so sánh kết quả của các nước áp dụng CSTT LPMT [4] Các nước áp dụng Các nước Trước khi áp Sau khi áp không áp dụng dụng dụng Cơ sở hạ tầng 0,29 0,97 0,51 Sức khỏe hệ thống tài chính 0,41 0,48 0,4 Hệ số CAR 0,75 1,00 0,71 Giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán 0,16 0,21 0,16 Giá trị vốn hóa thị trường TPDN 0,1 0,07 0,29 Nguyễn Thị Minh Tâm 16 K16NHA Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng Doanh thu thị trường chứng khoán 0,29 0,22 0,37 Lợi suất đáo hạn trái phiếu 0,23 0,43 0,18 Tính độc lập của các định chế 0,59 0,72 0,49 Nghĩa vụ tài chính 0,77 1,00 0,50 Độc lập về tổ chức 0,81 0,96 0,70 Quyền lực hợp pháp của NHTƯ 0,5 0,62 0,40 Tỷ lệ ngân sách trên GDP 0,48 0,47 0,38 Tỷ lệ nợ công trên GDP 0,47 0,47 0,35 NHTƯ độc lập 0,26 0,64 0,32 Cấu trúc nền kinh tế 0,36 0,46 0,55 Mức chuyển qua của tỷ giá hối đoái 0,23 0,44 0,33 Độ nhạy cảm của giá hàng hóa 0,35 0,42 0,67 Đô-la hóa 0,69 0,75 0,63 Tự do thương mại 0,18 0,21 0,56 Nguồn: IMF 1. Vấn đề kỹ thuật và hệ thống báo cáo Về lý thuyết, LPMT có một quy trình khá đơn giản, bản chất của nó bao gồm: NHTƯ dự báo xu hướng lạm phát sau đó so sánh dự báo này với chỉ số mục tiêu mà NHTƯ mong muốn đạt được; khoảng cách chênh lệch giữa chỉ số dự báo và chỉ số mục tiêu sẽ nói lên mức độ mà CSTT cần điều chỉnh.
Tuy nhiên trên thực tế, vấn đề kỹ thuật thực hiện quy trình này rất phức tạp và cũng có sự khác nhau rõ rệt giữa các quốc gia. Công bố mục tiêu lạm phát Khi tiếp cận với việc công bố chỉ số LPMT, ta có thể thấy rõ sự khác nhau giữa các quốc gia. Cơ quan công bố, chỉ số LPMT có thể do NHTƯ tự mình công bố như Australia, Phần Lan, Thụy Điển và Tây Ban Nha, cũng có thể là sự thoả thuận giữa NHTƯ và Bộ tài chính như Canada và Thụy Sỹ, hoặc như ở Vương quốc Anh, Bộ Tài Nguyễn Thị Minh Tâm 17 K16NHA Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng chính chịu trách nhiệm công bố và Ngân hàng của nước Anh đóng vai trò cố vấn. Cũng có một số nước, chỉ số LPMT trước tiên được NHTƯ thông báo và trong nhiều trường hợp do Chính phủ phê duyệt.
Như vậy, ở đâu tính độc lập của NHTƯ càng cao thì ở đó NHTƯ sẽ càng phải có trách nhiệm quản trị cơ chế LPMT, bao gồm: xây dựng chỉ tiêu; công bố và thực thi. Từ đây, ta có thể rút ra kết luận rằng: chủ thể xây dựng, công bố và thực thi chỉ tiêu lạm phát phụ thuộc rất nhiều vào tính độc lập của NHTƯ. Trong tất cả các nước áp dụng LPMT chỉ có Ngân hàng Dực trữ New Zealand và Ngân hàng Anh công bố dự báo lạm phát năm tới, còn lại các nước khác từ chối công bố. Xác định chỉ số LPMT Vấn đề xác định chỉ số LPMT cũng có sự thay đổi giữa các nước.
Những khác nhau cơ bản liên quan đến 3 thông số chính của mục tiêu: tầm nhìn mục tiêu, chỉ số LPMT và tính linh hoạt của chỉ số LPMT. - Tầm nhìn mục tiêu. Tầm nhìn mục tiêu ngụ ý nói về quãng thời gian mà quốc gia có thể đạt được và duy trì mục tiêu kế hoạch đã đề ra. Hiện nay có hai phương pháp tính toán được xem là tối ưu: phương án thứ nhất, LPMT được xem như là một chính sách giảm thiểu tối đa gây sốc cho nền kinh tế.
Phụ thuộc vào từng hiện trạng của nền kinh tế mà tầm nhìn mục tiêu thường dao động từ 24 đến 36 tháng. Phương án thứ hai, LPMT dựa trên quy luật kinh nghiệm. Phương pháp này phụ thuộc ở tầm nhìn "sâu'' vào tương lai của NHTƯ cũng như các vấn đề thay đổi, của nền kinh tế mà như quan tâm, hay nói cách khác là số lượng'' giai đoạn mà NHTƯ có thể dự báo về tình trạng phát triển của nền kinh tế. Ngoài ra, việc xác định tầm nhìn mục tiêu phụ thuộc rất nhiều tỷ lệ lạm phát tại thời điểm bắt đầu thực hiện cơ chế LPMT.
Ví dụ như Canada và New Zealand; bước thứ nhất, họ bắt đầu sử dụng LPMT như một liều thuốc chống lạm phát, độ dài mục tiêu là 18 tháng. Bước tiếp theo, mục tiêu là tiếp tục đạt được mức lạm phát thấp hơn với khoảng thời gian là 12 tháng đối với NiuDilân và trong 18 tháng đối với Canada. Sau khi đạt được thành công về giá trị của chỉ số có lợi cho nền kinh tế trong kế hoạch dài hạn, chỉ số mục tiêu nên được duy trì ở mức cố định trong một quãng thời gian. Năm năm là khoảng thời hạn mà NHTƯ của New Zealand đề ra, tại Canada cũng tương tự như vậy - đây là khoảng thời gian cần thiết để hiểu rõ hơn chuyển động của nền kinh tế trong điều kiện lạm phát thấp và qua đó nói lên tính ổn định giá cả trên thực tế.
- Chỉ số giá cả. Thực tế hầu hết các nước khi đánh giá lạm phát đều sử dụng chỉ số giá cả tiêu dùng (CPI) làm công cụ nền tảng, bởi CPI có những lợi thế riêng như: tính quảng bá tương đối rộng đối với xã hội, được công bố và tính toán thường xuyên. Nhưng bên cạnh đó, NHTƯ Nguyễn Thị Minh Tâm 18 K16NHA Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng không hiếm khi đưa ra chỉ số giá cả khác mà nó chính là CPI hoặc CPI đã loại trừ một số yếu tố - chỉ số điều chỉnh này thường được gọi là chỉ số lạm phát cơ bản (core inflation). Thông thường, CPI bao gồm những nhóm hàng hóa và dịch vụ.
Có nhiều mặt hàng mà giá cả của nó là những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của NHTƯ.