đặt vấn đề nghiên cứu là dưới tác động của các điều kiện kinh tế vĩ mô, liệu các công ty Việt Nam thuộc các ngành khác nhau có điều chỉnh cấu trúc vốn hướng đến cấu trúc vốn mục tiêu với tốc độ khác nhau hay không và tác giả đã chọn ngành Bất động sản để nghiên cứu vì đây là ngành đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thể hiện ở chỗ các cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và khu vực đều xuất phát từ sự thất bại của thị trường bất động sản, từ đó kéo theo sự thất bại của các thị trường khác như thị trường tài chính, thị trường hàng hóa, thị trường nguồn nhân lực. Theo định nghĩa tại điều 54, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 28/11/2013: “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật. Với định nghĩa trên, có thể thấy rằng đất đai là tài sản quan trọng của đất nước, có đóng góp rất lớn trong phát triển nền kinh tế do đó cần phải được quản lý chặt chẽ. Mặt khác, theo định nghĩa tại điều 107, bộ Luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015: “Bất động sản bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền 10 với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, các ngành có liên quan đến đất đai và công trình xây dựng trên đất, gồm 3 ngành là Bất động sản, Vật liệu xây dựng và Xây dựng; do đó tác giả đề tài này đã phân loại ba ngành trên thành nhóm ngành Bất động sản để nghiên cứu. Theo phân loại ngành tại website vietstock.vn gồm có 20 ngành, do mục tiêu nghiên cứu của đề tài là các công ty phi tài chính nên tác giả đã loại bỏ 3 ngành ra khỏi mẫu nghiên cứu, đó là ngành Ngân hàng, Chứng khoán và Bảo hiểm. Theo phân tích trên, tác giả chọn nhóm ngành Bất động sản gồm 3 ngành: Bất động sản, Vật liệu xây dựng và Xây dựng; và 14 ngành còn lại được xếp vào nhóm ngành Sản xuất-Kinh doanh-Dịch vụ (SX-KD-DV) bao gồm: Bán buôn, Bán lẻ, Chăm sóc sức khỏe, Chế biến thủy sản, Công nghệ và Thông tin, Khai khoáng, Nông-Lâm-Ngư, Sản phẩm Cao su, Sản xuất Hàng gia dụng, Sản xuất Nhựa-Hóa chất, Sản xuất Thiết bị máy móc, Tiện ích, Thực phẩm-Đồ uống, Vận tải-Kho bãi. Với khoảng trống nghiên cứu trên, tác giả quyết định nghiên cứu tác động của các điều kiện kinh tế vĩ mô tốt và xấu đến tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng đến cấu trúc vốn mục tiêu của các công ty niêm yết Việt Nam, và đặc biệt là tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng đến cấu trúc vốn mục tiêu của các công ty thuộc các nhóm ngành Bất động sản so với các công ty thuộc nhóm ngành SX-KD-DV trong các điều kiện kinh tế vĩ mô khác nhau giai đoạn 2006-2015 mà từ trước đến nay chưa có công trình nào ở Việt Nam nghiên cứu một cách có hệ thống.4 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu Dựa trên cơ sở các lý thuyết về cấu trúc vốn, các công trình nghiên cứu về tác động của các yếu tố đến cấu trúc vốn tĩnh cũng như cấu trúc vốn động, luận án tập trung nghiên cứu tác động của các điều kiện kinh tế vĩ mô được thể hiện là tình trạng tốt hay xấu của nền kinh tế (được xác định bằng chỉ số chênh lệch kỳ hạn lãi suất và tỷ suất cổ tức thị 11 trường) đến tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng đến cấu trúc vốn mục tiêu của các công ty Việt Nam.
Ngoài ra, Bất động sản là một trong những ngành quan trọng và có mức độ tác động nhất định đến các ngành nghề khác trong nền kinh tế; bởi thực tế cho thấy sự thất bại của thị trường thường xuất phát từ sự bất ổn của ngành Bất động sản, từ đó ảnh hưởng đến tất cả các ngành khác (SX-KD-DV) trong nền kinh tế. Do đó, cấu trúc vốn cũng như tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng đến cấu trúc vốn mục tiêu của các công ty thuộc ngành Bất động sản cũng khác biệt so với các công ty thuộc ngành khác và cũng là một trong những vấn đề được đặt ra để nghiên cứu. Vì vậy, để nghiên cứu vấn đề này, tác giả phân chia các ngành trong mẫu nghiên cứu thành hai nhóm ngành là Bất động sản và SX-KD-DV với mục tiêu xem xét tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng đến cấu trúc vốn mục tiêu của các công ty thuộc nhóm ngành Bất động sản nhanh hơn hay chậm hơn so với các công ty thuộc nhóm ngành SX-KD-DV trong các điều kiện kinh tế vĩ mô khác nhau nhằm khẳng định vai trò của ngành Bất động sản so với các ngành khác (SX-KD-DV) trong nền kinh tế thông qua bằng chứng thực nghiệm, từ đó có thể đề xuất chính sách phù hợp. Cụ thể là, tác giả nghiên cứu tác động của các các điều kiện kinh tế vĩ mô được thể hiện là tình trạng tốt hay xấu của nền kinh tế đến tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng đến cấu trúc vốn mục tiêu của các công ty Việt Nam thuộc nhóm ngành Bất động sản so với các công ty thuộc nhóm ngành SX-KD-DV; với mục tiêu nghiên cứu này sẽ tạo ra sự khác biệt của luận án so với nghiên cứu của Cook và Tang (2010) và các nghiên cứu ở Việt Nam.
Với mục tiêu nghiên cứu trên, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau: (1) Dưới tác động của các điều kiện kinh tế vĩ mô khác nhau, tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng đến cấu trúc vốn mục tiêu của các công ty niêm yết Việt Nam có khác nhau hay không? 12 (2) Dưới tác động của các điều kiện kinh tế vĩ mô khác nhau, tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng đến cấu trúc vốn mục tiêu của các công ty niêm yết Việt Nam thuộc nhóm ngành Bất động sản và SX-KD-DV có khác nhau hay không? 1.5 Phạm vi nghiên cứu Luận án nghiên cứu tác động của các điều kiện kinh tế vĩ mô đến tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng đến cấu trúc vốn mục tiêu của các công ty cổ phần thuộc 17 ngành niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2006-2015 theo phân loại ngành tại website vietstock. - Đề tài nghiên cứu cấu trúc vốn động do đây là một nội dung khá mới và thú vị mà các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam quan tâm bởi thực tế cho thấy cấu trúc vốn công ty luôn thay đổi theo thời gian, không bất biến như theo quan điểm của cấu trúc vốn tĩnh. - Tác giả lựa chọn theo phân ngành của Vietstock để nghiên cứu đề tài này do Vietstock phân ngành dựa theo tiêu chuẩn NAICS 2007 (The North American Industry Classification System 2007); hệ thống này có tính phổ biến, bao quát cao, thích hợp cho một nền kinh tế hiện đại, có trật tự logic cao trong việc sắp xếp thứ tự ngành, được sự hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế và có nhiều điểm tương đồng với hệ thống phân ngành VSIC 2007 (Vietnam Standard Industrial Classification 2007) của Việt Nam4. Theo phân loại ngành tại website vietstock.vn, các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thuộc 20 ngành, tuy nhiên tác giả loại bỏ 3 ngành là Ngân hàng, Chứng khoán và Bảo hiểm do tính chất đặc thù của các ngành này dẫn đến sự khác biệt đáng kể giữa báo cáo tài chính của các ngân hàng và công ty thuộc ngành Ngân hàng-Bảo hiểm-Chứng khoán so với báo cáo tài chính của các công ty thuộc các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác.
4 Quan điểm phân ngành tại Vietstock, http://static1.vn/edocs/297/Quan_diem_phan_nganh_tai_Vietstock. 13 Đồng thời, do thị trường chứng khoán Việt Nam mới phát triển, số lượng công ty chưa nhiều và quy mô công ty không lớn nên tác giả chia 17 ngành của mẫu nghiên cứu thành hai nhóm ngành có đặc điểm tương đồng nhau là nhóm ngành Bất động sản và SX-KD-DV để nghiên cứu tác động của các điều kiện kinh tế vĩ mô đến tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng đến cấu trúc vốn mục tiêu của các công ty niêm yết Việt Nam thuộc hai nhóm ngành trên. - Tác giả chọn Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HSX) và Sở Giao dịch Chứng khoán TP.
Hà Nội (HNX) để nghiên cứu do đây là hai thị trường chứng khoán chính thống và đại diện cho thị trường chứng khoán Việt Nam từ trước đến nay. - Tác giả chọn giai đoạn nghiên cứu là 2006-2015, do chỉ thu thập được các chỉ số kinh tế vĩ mô và các thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam tương đối đầy đủ trong giai đoạn này. Mặt khác, các công ty Việt Nam được niêm yết từ tháng 7 năm 2000 đối với HSX và tháng 7 năm 2005 đối với HNX và thị trường chứng khoán Việt Nam thực sự chỉ mới khá phát triển từ năm 2007 nên số lượng công ty được niêm yết nhiều hơn và quy mô các công ty lớn hơn.6 Phƣơng pháp nghiên cứu Để nghiên cứu mô hình, tác giả ứng dụng phương pháp nghiên cứu định lượng là phương pháp ước lượng GMM hệ thống với phần mềm Stata 13 cho mô hình điều chỉnh từng phần. Phương pháp OLS thông thường5 không cho thấy các đặc điểm riêng biệt của từng công ty, phương pháp tác động cố định6 chỉ áp dụng cho mô hình dữ liệu bảng tĩnh nên khi sử dụng các phương pháp OLS và FEM cho mô hình dữ liệu bảng động đều dẫn đến kết quả hệ số hồi quy bị chệch.
Với phương pháp hồi quy hai bước7 chỉ cho kết quả ước lượng hiệu quả khi phương sai đồng nhất, phương pháp GMM sai 5 Phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường: Ordinary Least Squares_OLS. 6 Phương pháp tác động cố định: Fixed Effect Model_FEM. 7 Phương pháp hồi quy hai bước: Two-Stage Least Squares_2SLS. 14 phân8 thì biến công cụ của các biến sai phân bậc nhất có thể sẽ yếu do cấp độ trễ.
Do đó, chỉ có phương pháp GMM hệ thống là phương pháp mang lại kết quả tốt nhất cho mô hình dữ liệu bảng động vì cùng lúc xử lý được các khuyết tật của mô hình là phương sai thay đổi, tự tương quan và hiện tượng nội sinh và cho kết quả hồi quy nhất quán với các hệ số ước lượng đáng tin cậy. Đây là ưu việt của phương pháp GMM hệ thống so với các phương pháp ước lượng khác.