chương 1, trong chương 2 tác giả đề cặp đến các khái niệm liên quan, cơ sở lý thuyết nên cứu, các nghiên cứu trước về tác động thị trường chứng khoán thị trường chứng khoán đến tăng trưởng kinh tế. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu Chương này, tác giả đề cập đến phương pháp nghiên cứu, sử dụng phương pháp định lượng, nguồn dữ liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, giải thích các biến trong mô hình. 6 Chương 4: Kết quả nghiên cứu Bao gồm các phân tích mô tả thống kê, xác định biến nội sinh, xử lý biến nội sinh và chạy kết quả cuối cùng. Chương 5 : Kết luận và khuyến nghị Trong chương này rút ra các kết quả từ quá trình phân tích, đưa ra các khuyết nghị, đề xuất.
Đồng thời nêu lên những hạn chế trong nghiên cứu và có hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 trình bày nội dung gồm cơ sở lý thuyết về vốn hoá thị trường chứng khoán,tác động của vốn hoá đến tăng trưởng kinh tế, lược khảo các nghiên cứu trước về tác động của của vốn hoá đến tăng trưởng kinh tế.1 Thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán, theo Trading Economics (2013), thị trường chứng khoán là một thị trường hoặc một trung tâm giao dịch, nơi mà người mua chứng khoán đáp ứng bên bán chứng khoán tại một mức giá nhất định hay gọi là giá khớp lệnh giao dịch. Akingbohungbe (1996), thị trường chứng khoán hoặc thị trường vốn được định nghĩa là các thị trường nơi mà trong trung và dài hạn tài chính có thể được tăng lên. Al-Faki (2006) và Kolapo & Adaramola (2012), cho rằng các chứng khoán hoặc thị trường vốn là một mạng lưới các tổ chức tài chính chuyên ngành, hàng loạt các cơ chế, quy trình và ứng dụng công nghệ thông tin cho cơ sở hạ tầng, trong nhiều cách khác nhau tạo điều kiện, quy tụ cho các nhà cung cấp và người sử dụng nguồn vốn trung hạn và dài hạn để đầu tư vào dự án phát triển kinh tế.
Do đó, thị trường chứng khoán hoặc trao đổi mua bán chứng khoán các nhà đầu tư không cần thiết phải đến sàn giao dịch để thực hiện, lệnh giao dịch có thể thực hiện bất kỳ nơi nào với sự kết nối mang internet. Nhưng với sự tiến bộ của công nghệ thông tin ngày càng đang phát triển khi những nhà đầu tư, tổ chức trao đổi cổ phiếu của họ chủ yếu trong một sàn giao dịch chứng khoán. Nhấn mạnh về tầm quan trọng của thị trường chứng khoán, Donwa & Odia (2010) khẳng định rằng thị trường vốn đã được xác định là một tổ chức góp phần vào sự phát triển kinh tế-xã hội và phát triển của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Để nghiên cứu thị trường chứng khoán người có rất nhiều chỉ số để đo lường như chỉ số Vnindex, S&P 500, Nasdaq, Dow 30; thanh khoản thị trường và vốn hoá thị trường,.
8 Vốn hoá thị trường, theo Amadeo (2013), vốn hóa thị trường “market cap” là cách sử dụng các giá cổ phiếu để xác định giá trị của một công ty và làm thế nào để có khả năng phát triển. Mặt khác, Theo Ngân hàng Thế giới (2013), vốn hóa thị trường (còn được gọi là giá trị thị trường) là tích số giữa giá cổ phiếu và số lượng cổ phiếu lưu hành. Ngoài ra vốn hóa thị trường là một yếu tố quan trọng của thanh khoản của thị trường vốn và thể hiện hiệu quả tổng thể của nền kinh tế (Ewah, Esang & Bassey, 2009). Vốn hóa thị trường chủ yếu được sử dụng bởi các nhà đầu tư, để phân loại vốn của các công ty nhà đầu tư thường gọi công ty có vốn hoá nhỏ, vừa và lớn.
Công thức đo lường vốn hoá thị trường theo ngân hàng thế giới SIZE = P x KLCP (2.1) Trong đó, SIZE: Vốn hoá thị trường chứng khoán; P: Giá trị cổ phiếu giao dịch tại thời điểm; KLCP: Khối lượng cổ phiếu đang lưu hành 2.2 Tăng trưởng kinh tế Khái niệm tăng trưởng kinh tế, theo Simon trích bởi Nguyễn Trọng Hoài (2010), tăng trưởng là sự gia tăng một cách bền vững về sản lượng bình quân đầu người hay sản lượng trên mỗi công nhân. Hay có thể định nghĩa tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số. Nếu việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia tăng lên theo bất cứ cách nào, cùng với đó là thu nhập bình quân tăng lên, thì quốc gia đó đã đạt được “tăng trưởng kinh tế” (Dwight H. Theo Begg David và ctg (2011), “Tăng trưởng kinh tế là sự thay đổi thu nhập thực tế hoặc sản lượng thực tế”.
Như vậy, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thực tế của tổng sản phẩm quốc dân GNP (Gross Nation Product); tổng sản phẩm quốc nội GDP (Gross Dmestic Product) hay sản phẩm quốc dân ròng NNP (Net National Product) trong một thời kỳ nhất định. Các nhà kinh tế thường sử dụng chỉ tiêu GDP để đo lường tăng trưởng kinh tế. 9 Theo cục Thống kê Quốc gia (2013) và Cục Thống kê Úc (1998) GDP có thể được đo bằng cách sử dụng các phương pháp sản xuất, thu nhập và chi tiêu. Các biện pháp dựa trên chi tiêu của GDP có nguồn gốc như chi tiêu cho tiêu dùng cuối cùng của chính phủ và các hộ gia đình, cộng với đầu tư vốn cố định và những thay đổi trong các kho dự trữ, cộng với xuất khẩu trừ đi nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, cộng (hoặc trừ) sự khác biệt thống kê.
Cách xác định dựa trên thu nhập của GDP cho thấy các thành phần của thu nhập yếu tố, đó là tiền lương nhân viên, tổng thặng dư điều hành và thu nhập hỗn hợp, cộng thêm thuế ít trợ cấp đối với sản xuất và nhập khẩu. Các biện pháp sản xuất dựa trên GDP được hiển thị như tổng sản lượng mua "giá tiêu thụ ít trung gian”. Khái niệm các cách xác định GDP đều bình đẳng, nhưng vì các nguồn dữ liệu khác nhau và không hoàn hảo được sử dụng để đo mỗi phương pháp, các biện pháp có thể khác nhau trong thực tế. Sự khác biệt này được phản ánh trong các mục khác biệt thống kê.
Các tài khoản quốc gia thường xuyên được làm chuẩn để cân đối cung cấp hàng năm và sử dụng (đầu vào- đầu ra). Điều này đảm bảo rằng, trừ năm mới nhất, ba xác định GDP đều bình đẳng trên cơ sở hàng năm, mặc dù vẫn có một sự khác biệt thống kê giữa các ước tính hàng quý dựa trên ba phương pháp (Văn phòng Thống kê Quốc gia, năm 2013 và Văn phòng của Úc Thống kê, 1998). Đo lường tăng trưởng kinh tế, thước đo cơ bản về thu nhập quốc dân được sử dụng phổ biến đó là tổng sản phẩm quốc nội (GDP), ngoài ra tăng trưởng kinh tế còn được đo bẳng tổng sản phẩm quốc dân (GNP), theo Costanza, Hart, Posner & Talberth (2009), GDP là một ước tính thông qua thị trường, bằng cách cộng giá trị của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất và giao dịch với tiền bỏ ra trong một khoảng thời gian nhất định. Nó thường được đo bằng tổng sản phẩm quốc nội, như chi tiêu dùng cá nhân (chi cho hộ gia đình và cá nhân cho hàng hoá và dịch vụ), chi tiêu chính phủ (chi tiêu công về cung hàng hóa và dịch vụ, hạ tầng cơ sở, 10 các khoản thanh toán nợ, vv), xuất khẩu ròng (giá trị của một quốc gia " xuất khẩu trừ đi giá trị nhập khẩu”), và hình thành vốn ròng (việc tăng giá trị của một quốc gia" của tổng kho hàng hoá vốn thành tiền).
Mcteer (2008), GDP là cách các nhà kinh tế đo lường một nền kinh tế là sản xuất bao nhiêu trong tổng số hàng hóa và dịch vụ. Nó thường được tính bằng cách cộng số hạng mục chi tiêu, bao gồm cả chi tiêu của người tiêu dùng, đầu tư và chi tiêu chính phủ. Suranovic & Flat World Knowledge (2010) đều được xác định GDP là giá trị của tất cả các hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia chính thức trong một khoảng thời gian, thường là một năm. Perkins và ctg (2006), GNP là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được một xã hội tạo ra trong thời gian một năm.
GNP loại trừ hàng hóa trung gian, GNP tính đến sản lượng do công dân của một quốc gia tạo ra, bao gồm cả giá trị hàng hóa và dịch vụ do công dân quốc gia đó sống ở nước ngoài tạo ra. Trong bài nghiên cứu này tác giả trình bày cách tính tăng trưởng kinh tế dựa trên GDP. GDP thường được tính bằng ba cách theo Perkins và ctg (2006): Thứ nhất, phương pháp giá trị gia tăng (phương pháp sản xuất) GDP = AVA + IVA + SVA (2.2) Trong đó, AVA: Giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp ; IVA: Giá trị gia tăng của ngành công nghiệp ; SVA: Giá trị gia tăng của ngành dịch vụ Thứ hai, phương pháp chi tiêu: GDP bằng tổng tất cả các khoản chi tiêu hàng hóa và dịch vụ cuối cùng.3) Trong đó, C: Tiêu dùng hộ gia đình; I: Đầu tư gồm đầu tư vào tài sản cố định và tài sản lưu động; G: Chi tiêu hàng hoá và dịch vụ của Chính phủ; 11 NX: Giá trị của hàng hoá và dịch vụ được xuất khẩu sang các nước khác trừ giá trị hàng hoá và nhập khẩu từ nước ngoài. Thứ ba, phương pháp thu nhập: GDP bằng thu nhập gộp của các yếu tố sản xuất trong nền kinh tế được huy động cho quá trình sản xuất.
Nếu tính theo giá thị trường, GDP cũng bao gồm thuế gián thu: GDP = w + i + r + Pr + De + Ti (2.4) Trong đó, w: Tiền lương và tiền thưởng của người lao động ; i: Thu nhập của người cho vay; r: Thu nhập của chủ đất, chủ nhà và chủ các tài sản cho thuê khác; Pr: Lợi nhuận của chủ doanh nghiệp; Ti: Thuế gián thu ; De: Khấu hao. Có thể sử dụng mức giá hiện hành (GDP danh nghĩa) hoặc giá cố định (GDP thực) để đo lường GDP, mối quan hệ giữa GDP danh nghĩa và GDP thực thông qua chỉ số giá điều chỉnh GDP. GDPdanh nghĩa = chỉ số điều chỉnh GDP * GDPthực (2.5) Để đo lường tốc độ tăng trưởng của GDP thực hoặc danh nghĩa người ta thường sử dụng chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng (g), phản ánh % thay đổi của GDP năm sau so với năm trước. Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm được tính theo công thức: GDPt GDPt 1 Gi *100 (2.