CHƯƠNG 1.1 Lý do chọn đề tài .2 Mục tiêu nghiên cứu.3 Phương pháp nghiên cứu.4 Đóng góp của đề tài .2 Lý thuyết đánh đổi .3 Lý thuyết trật tự phân hạng .4 Lý thuyết về sự quá tự tin. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC .1 Những nhân tố nào có ảnh hướng đến cấu trúc vốn doanh nghiệp.2 Nhà quản lý là đối tượng dễ mắc phải lệch lạc nhận thức mà cụ thể là sự quá tự tin.3 Tác động của sự quá tự tin của nhà quản trị đến cấu trúc vốn doanh nghiệp .4 Tác động của điều kiện kinh tế vĩ mô lên sự điều chỉnh cấu trúc vốn của nhà quản trị. MÔ TẢ DỮ LIỆU VÀ MÔ HÌNH .3 Giới thiệu về GMM .4 Mô tả các biến trong mô hình .1 Quá tự tin .3 Các biến về đặc điểm của doanh nghiệp .4 Điều kiện kinh tế vĩ mô. CÁC KẾT QUẢ CHÍNH .1 Thống kê mô tả các biến: .2 Kết quả hồi quy cho mô hình động .3 Kết quả hồi quy với biến tỷ lệ nợ tính theo giá trị thị trường: .4 Kết quả hồi quy khi thay đổi các giá trị đại diện của tâm lý quá tự tin/lạc quan .5 Kết quả hồi quy ảnh hưởng của điều kiện kinh tế lên hành vi của nhà quản lý .1 Hướng nghiên cứu và phát triển đề tài .54 TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT CEO Giám đốc điều hành GMM Generalized Method of Moments GMM-Sys Mô hình hồi quy GMM hệ thống HOSE Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh HNX Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 5.1: Giải thích các biến đại diện cho tâm lý quá tự tin 35 Bảng 5.2: Giải thích các biến đại diện cho đòn bẩy 36 Bảng 5.3: Mô tả các biến về đặc điểm của doanh nghiệp 38 Bảng 6.4: Thống kê các biến được sử dụng trong bài 41 Bảng 6.5: Thống kê các biến LEV1, EBIT, LNA đối với các công ty thuộc nhóm 1 42 Bảng 6.6: Thống kê các biến LEV1, EBIT, LNA đối với các công ty thuộc nhóm 2 43 Bảng 6.7: Xác định các nhân tố tác động cấu trúc vốn sử dụng mô hình hồi quy GMM-Sys cho mô hình động (dynamic model) 35 Bảng 6.8: Xác định các nhân tố tác động cấu trúc vốn sử dụng mô hình hồi quy GMM-Sys cho giá trị đòn bẩy thị trường.9: Bảng kết quả hồi quy các đại diện khác cho biến tâm lý quá tự tin/lạc quan 50 Bảng 6.10: Bảng Kết quả hồi quy GMM-Sys về ảnh hưởng của điều kiện kinh tế vĩ mô.1 Lý do chọn đề tài Lý thuyết cấu trúc vốn doanh nghiệp từ trước đến nay nhấn mạnh vai trò các đặc điểm trong nội bộ doanh nghiệp và một số đề cập đến các yếu tố vĩ mô trong việc xác định sự thay đổi của tỷ lệ nợ của một doanh nghiệp qua các năm với giả định là các thành phần tham gia thị trường là lý trí (rational).
Tuy nhiên giả định trên luôn vấp phải những bất cập trong thực tế. Chính điều đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến độ chính xác của các lý thuyết truyền thống. Các nhân tố về đặc điểm của doanh nghiệp như quy mô tài sản, khả năng sinh lợi… trên thực tế không hoàn toàn giải thích hết những biến động trong cấu trúc vốn doanh nghiệp. Các công trình nghiên cứu khác nhau đôi lúc lại không cho ra những kết quả đồng nhất.
Do đó, việc nới lỏng giả định về tính hợp lý của thị trường là một hướng đi mới góp phần giải thích rõ hơn các đóng góp của những lý thuyết truyền thống. Bài nghiên cứu tiếp cận vấn đề cấu trúc vốn doanh nghiệp trên phương diện tài chính hành vi. Với giả định nhà quản trị không phải hoàn toàn hợp lý (rational) và một góc nhìn mới trong đó xem xét vai trò của yếu tố tâm lý hành vi của nhà quản trị, bài nghiên cứu kỳ vọng đóng góp thêm một nhân tố đặc biệt giải thích sự thay đổi của tỷ lệ nợ trong công ty. Đó là hiện tượng lệch lạc nhận thức mà nhà quản trị hay mắc phải: sự quá tự tin.2 Mục tiêu nghiên cứu.
Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời cho câu hỏi: Liệu yếu tố tâm lý quá tự tin của nhà quản trị có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghệp hay không? Bài nghiên cứu được thực hiện dựa trên bộ dữ liệu từ trung tâm dữ liệu Reuters bao gồm 66 công ty niêm yết trên Sở giao dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn 2006-2014 2 1.3 Phương pháp nghiên cứu Với mục tiêu nghiên cứu trên, bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng hồi quy GMM-sys cho dữ liệu bảng trong giai đoạn 2006-2014. Giả thuyết nghiên cứu chính của bài đó là sự tương quan giữa tâm lý quá tự tin của nhà quản trị ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Mô hình nghiên cứu chính được dùng để kiểm định giả thuyết trên như sau: LEVit = α.LEVit-1 + Txit + ci + it Trong đó: LEVit: là tỷ lệ đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp i trong năm t xit : là tập hơn các biến thể hiện cho đặc điểm của doanh nghiệp. Bao gồm nhiều nhân tố như quy mô tài sản, giá trị thị trường doanh nghiệp, tâm lý quá tự tin của nhà quản trị… ci: là những yếu tố không quan sát đồng nhất và bất biến qua thời gian it : là thành phần phương sai của mô hình Các giá trị trên được thu thập dựa trên báo cáo thường niên và dữ liệu từ trung tâm dữ liệu Reuters.
Những chỉ tiêu về đặc điểm doanh nghiệp sẽ được thay đổi xuyên suốt công trình nhằm tăng tính bền vững của kết quả cũng như giúp giải thích các giả thuyết được xây dựng trong bài.4 Đóng góp của đề tài Bài nghiên cứu kỳ vọng đóng góp vào khuôn khổ các lý thuyết về cấu trúc vốn doanh nghiệp một hướng đi mới liên quan đến lĩnh vực tài chính hành vi. Kết quả của bài cũng kỳ vọng sẽ là một phần quan trọng trong quá trình phát triển và đề cao vai trò lĩnh vực học thuật mới này. Bên cạnh đó, đề tài này cũng đề cao tầm ảnh 3 hưởng của yếu tố quản trị doanh nghiệp trong việc đưa ra các quyết định hiệu quả góp phần gia tăng giá trị doanh nghiệp. Ngoài ra bài nghiên cứu cũng cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về các vận động trên thị trường vốn của doanh nghiệp tại Việt Nam: những biến động, đặc điểm và nguyên nhân.
GIỚI THIỆU Hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm về những nhân tố ảnh hưởng đến những quyết định tài chính của các công ty. Trong tài chính doanh nghiệp truyền thống, có hai lý thuyết lớn về cấu trúc vốn được thừa nhận rộng rãi, đó là lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng. Lý thuyết đánh đổi thừa nhận rằng các tỷ lệ nợ mục tiêu có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lớn nên vay nợ nhiều hơn các doanh nghiệp nhỏ bởi vì các doanh nghiệp lớn được đa dạng hóa tốt hơn và rủi ro vỡ nợ thấp hơn.
Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn, các tài sản hữu hình ít sụt giảm giá trị hơn, do đó các công ty có tài sản hữu hình an toàn và nhiều thu nhập được khấu trừ thuế nên có tỉ lệ nợ mục tiêu cao. 1Lý thuyết trật tự phân hạng dựa trên sự bất cân xứng thông tin giữa các giám đốc và các nhà đầu tư. Thông tin bất cân xứng này ảnh hưởng đến các lựa chọn giữa tài trợ nội bộ và tài trợ bên ngoài, giữa phát hành chứng khoán nợ và vốn cổ phần. Theo lý thuyết này, nguồn vốn đầu tư trước tiên sẽ được huy động từ vốn cổ phần, chủ yếu là lợi nhuận tái đầu tư, rồi sau mới đến phát hành nợ mới và cuối cùng là bằng phát hành cổ phần mới.
2 Cả hai lý thuyết này tuy khác nhau về quan điểm nhưng đều dựa trên một giả định quan trọng: đó là hàm ý tất cả những người tham gia trên thị trường, kể cả nhà quản lý đều duy lý. Tuy nhiên, trên thực tế thì thị trường tồn tại những bất hoàn hảo và khoa học hành vi con người cũng chứng minh rằng con người không hoàn toàn duy lý và dễ mắc phải những lệch lạc. Vì vậy, lý thuyết về tài chính hành vi gần đây nổi lên, như là một nhân tố quan trọng trong việc giải thích những quyết định về tài chính của con người. Một trong 1 Trang 391, Chương 15, sách Tài chính doanh nghiệp hiện đại – Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp, Đại học Kinh Tế Thành Phố Hồ chí Minh, NXB Thống Kê năm 2007 2 Trang 396, Chương 15, sách Tài chính doanh nghiệp hiện đại – Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp, Đại học Kinh Tế Thành Phố Hồ chí Minh, NXB Thống Kê năm 2007 5 những lệch lạc phổ biến nhất, được thừa nhận rộng rãi nhất chính là sự quá tự tin.
Lý thuyết tài chính hành vi cho rằng nếu một nhà quản lý bị lệch lạc quá tự tin thì sẽ có xu hướng vay nợ nhiều hơn so với các nhà quản lý duy lý. 3Vì vậy, lệch lạc này có thể là một nhân tố quan trọng trong quyết định tài trợ của một công ty. Bài nghiên cứu này tập trung xem xét đến các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trên Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh (HOSE), đặc biệt là nhân tố quá tự tin tác động như thế nào đến mức độ nợ của một công ty. Ngoài ra bài nghiên cứu cũng sẽ xem xét 2 yếu tố hành vi này của nhà quản lý trong bối cảnh khác nhau của nền kinh tế nhằm làm rõ tác động của chúng đối với cấu trúc vốn doanh nghiệp.
Bài nghiên cứu sử dụng mô hình GMM-Sys nhằm giải quyết các hiện tượng nội sinh, tương quan đồng thời giữa các biến giải thích và biến công cụ, và hiện tương phương sai thay đổi trong mô hình. Các vấn đề này gây ra bởi các yếu tố tác động cố định hay ngẫu nhiên trong phương trình (hay phương pháp hồi quy dữ liệu bảng). Các phần còn lại của bài nghiên cứu được trình bày như sau: - Phần 2: Cơ sở lý thuyết và Tổng quan các nghiên cứu trước đây: cơ sở lý thuyết về cấu trúc vốn (lý thuyết đánh đổi và trật tự phân hạng), lý thuyết tài chính hành vi về quá tự tin. - Phần 3: Phương pháp nghiên cứu: phần này sẽ trình bày mô hình và các kiểm định đượcsử dụng, cách thức thu thập dữ liệu tại sàn HOSE.