CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT VÀ CUNG TIỀN 1. Lý thuyết về lạm phát 1. Định nghĩa về lạm phát 1. Lạm phát Lạm phát là hiện tượng kinh tế vĩ mô phổ biến và ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội.
Trong quá khứ, đã có rất nhiều nhà kinh tế học nghiên cứu về lạm phát. Họ đưa ra các quan điểm khác nhau về lạm phát, điển hình như: - Theo Các Mác: Lạm phát là sự tràn ngập trên các kênh lưu thông những tờ giấy bạc thừa gây nên sự tăng của giá cả các mặt hàng trong nền kinh tế [1]. - Theo quan điểm của phái tiền tệ - Milton Friedman: Lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo dài. Friedman cho rằng lạm phát luôn luôn và bao giờ cũng là một hiện tượng tiền tệ [13].
Để chứng minh điều đó, năm 1956, Friedman đã giới thiệu lý luận của mình về cầu tiền, theo đó lượng cầu về tiền của nền kinh tế phụ thuộc vào một vài biến số kinh tế lớn như thu nhập thường xuyên, lãi suất dự tính của trái phiếu, chứng khoán, tỷ lệ lạm phát dự tính và lợi tức từ tiền. Friedman còn giả định rằng, người ta sẽ chuyển tài sản của mình từ dạng tiền sang hàng hóa nếu phát hiện tỷ lệ lạm phát dự tính tăng lên. Như vậy, chính là cung tiền tăng làm tăng tiêu dùng và do đó làm tăng tổng cầu, gây ra biến động kinh tế Việc gia tăng cung tiền dẫn đến lạm phát liên tục và kéo dài. Bằng việc phân tích mô hình cân bằng tổng cung cầu hàng hóa và tiền tệ, phái tiền tệ đã chứng minh được điều đó.
Hình 1 cho thấy: Khởi đầu nền kinh tế cân bằng ở điểm 1 (giao giữa AD1 và AS1). Nếu cung tiền gia tăng qua mỗi năm, làm cho 6 tổng cầu dịch chuyển sang phải đến AD2. Khi đó nền kinh tế tiến đến cân bằng ở điểm 1’ với đặc điểm: sản lượng gia tăng, thất nghiệp giảm.Thế nhưng, với sự mở rộng sản xuất đến lượt nó sẽ làm gia tăng chi phí. Và đường AS2 sẽ lập tức di chuyển qua trái, cắt đường AD2 tạo ra điểm cân bằng mới ở điểm 2, với mức giá gia tăng từ P1>P2.
Cứ như vậy, nếu cung tiền cứ gia tăng thì mức giá gia tăng và lạm phát xảy ra. Nghĩa là M tăng lên à P tăng lên. Trong phân tích cùa các nhà kinh tế tiền tệ, cung tiền được xem như là nguồn duy nhất làm dịch chuyển đường cầu AD, không có yếu tố khác làm di chuyển nền kinh tế từ điểm 1 đến 2 và 3 và hơn nữa. Cân bằng cung cầu hàng hóa và tiền tệ - Quan điểm của phái Keynes: Kinh tế học của Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn dụng lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát.
Điều này có thể giải thích qua sơ đồ AD-AS, đường AD dịch sang phải trong khi đường AS giữ nguyên sẽ khiến cho mức giá và sản lượng cùng tăng [14]. - Các nhà kinh tế học cổ điển - P. Samuelson: Ông cho rằng lạm phát chính là sự tăng lên của giá bánh mỳ, giá ô tô tăng, chi phí sản xuất tăng, tất cả những thứ này cho chúng ta biết rằng lạm phát chính là sự gia tăng của mặt bằng giá cả của tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế [2]. Theo ông, nguyên 7 nhân của lạm phát gồm: (1) do cầu kéo (do các cơn sốc về nhu cầu hàng hoá tiêu dùng); (2) Nguyên nhân phí phí đẩy (do các cơn sốc về phía cung); hoặc (3) Nguyên nhân xuất phát từ tâm lý (kỳ vọng) về lạm phát tăng mạnh trong tương lai; (4) Cung tiền tăng nhanh hơn lượng hàng hóa sản xuất (giống trường phái tiền tệ).
Có thể nói có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát, tuy nhiên, qua các quan điểm trên có thể cho ta thấy lạm phát là vấn đề liên quan đến giá cả. Như vậy, trong kinh tế học [9] có thể hiểu: Lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá cả chung. Mức giá cả chung ở đây được hiểu là mức giá cả trung bình của mọi loại hàng hóa dịch vụ, do đó, trong một nền kinh tế mặc dù có một số loại hàng hóa dịch vụ giảm giá tuy nhiên vẫn rơi vào tình trạng lạm phát là do giá cả của các loại hàng hóa dịch vụ khác tăng cao đủ mạnh để khiến mức giá cả trung bình của mọi loại hàng hóa tăng. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự suy giảm giá trị của đồng tiền, tức là trong thời kỳ lạm phát, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa, dịch vụ hơn so với thời kỳ không lạm phát.
Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Lạm phát cơ bản Lạm phát cơ bản (Core Inflation): là tỷ lệ lạm phát thể hiện sự thay đổi mức giá mang tính chất lâu dài mà loại bỏ những thay đổi mang tính tạm thời nên lạm phát cơ bản chính là lạm phát xuất phát từ nguyên nhân tiền tệ (hay chính lạm phát theo quan niệm của Friedman). Do đó, lạm phát cơ bản là một công cụ đắc lực giúp Ngân hàng trung ương (NHTW) đánh giá đúng hơn về lạm phát, qua đó mới có thể chỉ dẫn cho mục tiêu chính sách tiền tệ trong tương lai và một khi giá cả ổn định sẽ là tiền đề cho các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác ổn định và phát triển. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng các tác động của chính sách tiền tệ luôn có một độ trễ về thời gian mới có hiệu quả, do đó 8 sẽ là quá muộn nếu các NHTW đợi cho đến khi tỷ lệ lạm phát cơ bản bắt đầu tăng thì mới bắt đầu cố gắng làm giảm sức ép lạm phát.
Tùy vào các phương pháp đo lường khác nhau, các nước công nghiệp tiên tiến có phân biệt rõ ràng giữa tỷ lệ lạm phát được công bố rộng rãi theo thông lệ (thường là CPI, chỉ số giảm phát GDP) và tỷ lệ lạm phát cơ bản (có thể công bố hoặc không công bố mà chỉ để sử dụng nội bộ tuỳ từng quốc gia). Điểm khác nhau giữa CPI, chỉ số giảm phát GDP và tỷ lệ lạm phát cơ bản là CPI và chỉ số giảm phát GDP đều do tổng hợp tất cả các nhân tố tác động lên mức giá bao gồm cả sức ép về cầu, cung cùng với những trông chờ kỳ vọng vào tương lai còn lạm phát cơ bản thực chất chính là tỷ lệ lạm phát đã được điều chỉnh theo các yếu tố sức ép bên cầu cùng với những trông chờ kỳ vọng vào tương lai và loại bỏ những biến động lớn gây sốc bên cung. Ví dụ đối với một số loại giá được coi là biến động lớn, khá ngẫu nhiên mà không theo bất kỳ một xu hướng nào như trường hợp của các loại lương thực thực phẩm biến động theo thời vụ và theo chất lượng mùa màng; sự gia tăng của giá dầu thô cũng thường xuyên chịu tác động bởi nhân tố tạm thời, chẳng hạn như thời tiết; những thay đổi về giá các mặt hàng do nhà nước quản lý, thay đổi các mức thuế gián thu,. Tất cả những yếu tố đó chỉ gây ra thay đổi tạm thời về giá và sẽ biến mất sau đó mà không đưa ra được xu hướng của lạm phát về cơ bản và lâu dài.
Đây đều là những biến động nhất thời về giá cả và làm méo mó việc đo lường xu hướng lạm phát nên đều phải loại trừ. Đo lường lạm phát Hiện nay, khi nói đến lạm phát, ta thường hiểu là tỷ lệ tăng chỉ số giá tiêu dùng (gọi tắt là CPI). Tuy nhiên, trên thực tế, hai khái niệm này có những khác biệt nhất định. Để đo lường về lạm phát, có nhiều thước đo khác nhau.
Tùy theo mục đích quản lý, đặc điểm kinh tế có thể chọn cách đo lường chỉ số lạm phát khác nhau trên cơ sở lựa chọn rổ hàng hóa, quyền số của từng loại 9 hàng hóa khác nhau để tính chỉ số lạm phát. Tuy nhiên, các cách đo lường lạm phát sau được sử dụng khá phổ biến, cụ thể: 1. Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index-CPI) Đây là chỉ số lạm phát được sử dụng phổ biến nhất hiện nay trong đó có Việt Nam. Chỉ số giá tiêu dùng phản ánh sự thay đổi giá của một rổ hàng hóa, dịch vụ đại diện cho cơ cấu tiêu dùng của nền kinh tế so với năm được chọn làm gốc, cụ thể CPI được tính theo công thức: ∑ Pit x Qio CPI = ∑ Pio x Qio Trong đó: Pit là giá cả của rổ hàng hóa năm hiện tại Pio là giá cả rổ hàng hóa năm được chọn làm gốc Qio: lượng tiêu dùng ở kỳ gốc của rổ hàng hóa Nhìn vào công thức trên, ta thấy chỉ số CPI phụ thuộc vào năm được chọn làm gốc và sự lựa chọn rổ hàng hoá tiêu dùng.
Chỉ số CPI phản ánh tương đối chính xác những biến động chung của mặt bằng giá cả hàng hóa và dịch vụ. Khi chỉ số này tăng tức là giá cả trung bình của rổ hàng hóa tăng, điều này có nghĩa hoặc tất cả các mặt hàng đều tăng giá hoặc số lượng hàng hóa tăng giá nhiều hơn hàng hóa, dịch vụ giảm giá và mức tăng giá đủ lớn kéo theo mức giá trung bình tăng theo. Như vậy, khi CPI tăng thì người tiêu dùng sẽ bị ảnh hưởng vì cùng với thu nhập như trước nhưng giờ đây họ mua được ít hàng hóa, dịch vụ hơn. Tuy nhiên, chỉ số CPI cũng có những nhược điểm nhất định.
Đó là CPI không phản ánh sự biến động của giá hàng hoá tư bản và không phản ánh sự biến đổi trong cơ cấu hàng hoá tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong phân bổ chi tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hoá khác nhau theo thời gian. Sở dĩ như vậy là do trong việc tính toán CPI phải sử dụng trọng số cố định 10 trong tính toán (dựa vào tỷ trọng chi tiếu đối với một số hàng hóa của người dân mua vào năm gốc), mức độ bao phủ của chỉ số CPI chỉ giới hạn đối với một rổ hàng hóa, dịch vụ là đại diện tiêu biểu cho hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng xã hội như lương thực, thực phẩm, xăng dầu, khí đốt,… 1.