Chương 1 cung cấp cái nhìn tổng quan về chủ đề nghiên cứu. Từ đó, chương này làm nổi bật tính cần thiết và ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài "Tác động của một số yếu tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán và chỉ số ngành tại Việt Nam ". Ngoài ra, chương này cũng đề cập đến khung phương pháp thực hiện đề tài, cũng như mô tả tóm tắt về dữ liệu nghiên cứu. Khóa luận sẽ bao gồm tổng cộng 5 chương, và các chương tiếp theo sẽ đi sâu vào từng phần để tìm hiểu chi tiết hơn về chủ đề nghiên cứu này.
9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ 2. Chỉ số giá chứng khoán 2. Khái niệm Theo Nguyễn Minh Kiều và Nguyễn Văn Điệp (2013) chỉ số giá chứng khoán, còn được gọi là chỉ số thị trường chứng khoán, đóng vai trò là một dấu hiệu thống kê thể hiện tình hình tổng thể của thị trường cổ phiếu. Để tính toán chỉ số này, ta dựa trên một danh mục cổ phiếu đã được lựa chọn theo quy ước xác định.
Theo xu hướng chung, các cổ phiếu cùng nhóm có chung một số điểm như việc cùng niêm yết tại một sàn giao dịch chứng khoán, thuộc ngành tương tự nhau hoặc có mức độ vốn hóa thị trường tương đương nhau. Chỉ số giá chứng khoán là một dạng chỉ báo về giá cổ phiếu, phản ánh xu hướng phát triển của thị trường cổ phiếu, và thể hiện sự thay đổi của giá cổ phiếu và tình hình giao dịch trên thị trường. Một cách đơn giản, nó thể hiện giá trị bình quân của cổ phiếu tại một ngày cụ thể so với ngày gốc (Bùi Kim Yến, 2013). Tóm lại, chỉ số giá chứng khoán có tầm quan trọng đáng kể trong việc theo dõi diễn biến và tình hình của thị trường cổ phiếu (Đặng Văn Dân, 2016).
Vai trò của chỉ số giá chứng khoán Chỉ số giá chứng khoán là một phần của thị trường chứng khoán. Nó phản ánh cho giá trị nhóm cổ phiếu của các công ty niêm yết (giao dịch công khai) tại thị trường chứng khoán. Các nhà đầu tư, các nhà kinh tế học sử dụng chỉ số giá chứng khoán để so sánh lợi nhuận trên các tài sản khác nhau đồng thời suy tính trước sự thay đổi trong tương lai của giá cổ phiếu. Phương pháp xây dựng chỉ số giá chứng khoán Phương pháp Passcher Năm 1874, Passcher đã tạo ra phương pháp này dựa trên việc tính toán lượng cổ phiếu tồn tại trong kỳ hiện tại, sử dụng phương pháp bình quân gia quyền để tính toán chỉ số giá.
Trong đó, quyền số được xác định bằng số lượng cổ phiếu niêm yết. 10 Phương pháp này được sử dụng rộng rãi nhất, kết quả tính toán sẽ thay đổi tùy theo cơ cấu của quyền số trong khoảng thời gian tính toán. Công thức dưới đây thường được dùng để thực hiện tính toán: ΣQ1 xP1 Ip = xI ΣQ1 xP0 0 Trong đó: 𝐼! : Là chỉ số giá theo phương pháp Passcher; 𝑃" : Là giá của chứng khoán i thời kỳ nghiên cứu; 𝑃# : Là giá cổ của chứng khoán i thời kỳ gốc; 𝑄" : Là khối lượng (quyền số) thời kỳ nghiên cứu hoặc cơ cấu khối lượng thời kỳ nghiên cứu; 𝐼# : Là giá trị kỳ gốc. Thông thường giá trị cơ sở được chọn là 100.
Các chỉ số KOSPI (Hàn Quốc), S&P 500 (Mỹ), FTSE 100 (Anh), TOPIX (Nhật), CAC (Pháp), TWSE (Đài Loan), Hangseng (Hồng Kông), các chỉ số chứng khoán của Thuỵ Sỹ và VN-Index của Việt Nam áp dụng phương pháp này. Phương pháp Laspeyres Phương pháp Laspeyres được xây dựng bởi Laspeyres năm 1871, dựa trên lượng cổ phiếu ở kỳ cơ sở (kỳ gốc). Chỉ số giá bình quân Laspeyres là một loại chỉ số sử dụng phương pháp bình quân gia quyền với quyền số được xác định dựa trên số lượng cổ phiếu đang niêm yết trong giai đoạn thời kỳ gốc. Như vậy, khi tính toán kết quả của chỉ số này sẽ phụ thuộc vào cấu trúc quyền số trong giai đoạn thời kỳ gốc.
ΣQ0 xP1 IL = xI ΣQ0 xP0 0 Trong đó: 𝐼$ : Là chỉ số giá theo phương pháp Laspeyres; 11 𝑃" : Là giá của chứng khoán i thời kỳ nghiên cứu; 𝑃# : Là giá cổ của chứng khoán i thời kỳ gốc; 𝑄# : khối lượng (quyền số thời kì gốc), còn gọi là lượng hàng của kì gốc; 𝐼# : Là giá trị kỳ gốc. Thông thường giá trị cơ sở được chọn là 100. Chỉ có chỉ số FAZ, DAX của Đức áp dụng phương pháp này. Phương pháp số bình quân số học Bên cạnh những phương pháp đã đề cập, phương pháp tính giá bình quân giản đơn cũng thường được sử dụng.
Công thức tính bao gồm việc tính tổng thị giá của tất cả các cổ phiếu và chia cho số lượng cổ phiếu tham gia tính toán. Pi Ia = n Trong đó: 𝐼% : Là giá bình quân theo phương pháp bình quân số giản đơn 𝑃& : Là giá chứng khoán i n: Là số lượng chứng khoán đưa vào tính toán. Các chỉ số họ Dow Jone của Mỹ, Nikkei 225 của Nhật và MBI của Ý áp dụng phương pháp này. Phương pháp này sẽ tốt khi mức giá của các cổ phiếu tham gia niêm yết khá đồng đều, hay độ lệch chuẩn của nó thấp.
Chỉ số giá chứng khoán Việt Nam VN-Index được tính theo phương pháp Passcher với công thức sau: Σi (Qit xPit ) VNIndex= x100 Σi (Qit xPi0) Trong đó: 𝐼! : Là chỉ số giá theo phương pháp Paasche. 𝑃&' : Là giá cổ phiếu i thời kỳ t. 12 𝑃&# : Là giá cổ phiếu i thời kỳ gốc. 𝑄&' : Là cơ cấu của khối lượng tại thời điểm tính toán hay là khối lượng (quyền số) thời điểm tính toán (t).
i: Là cổ phiếu i khi tham gia tính chỉ số giá. Một cách tổng quát hơn: Tổng giá trị thị trường của các cổ phiếu niêm yết hiện tại VNIndex= x100 Tổng giá trị của các cổ phiếu niêm yết cơ sở 2.4 Phương pháp xây dựng chỉ số ngành Vốn hoá thị trường hiện tại (CMV) Chỉ số ngành = x100 Vốn hoá thị trường cơ sở (BMV) Trong đó: CMV = ∑nn=1 (Pi x Si x Fi ) i = 1, 2, 3,…n n: Số lượng cổ phiếu trong một ngành 𝑃& : Giá cổ phiếu i trong rổ chỉ số tại thời điểm tính toán 𝑆& : Khối lượng cổ phiếu lưu hành của cổ phiếu i tại thời điểm tính toán 𝐹& : Tỷ lệ FreeFloat của cổ phiếu i trong rổ chỉ số tại thời điểm tính toán Điểm cơ sở mặc định là 100 BMV: Vốn hoá thị trường cơ sở hay được hiểu như là hệ số chia. Khi CMV bị biến động bởi các sự kiện điều chỉnh giá cổ phiếu trong rổ chỉ số hoặcc thay đổi KLCP lưu hành, FreeFloat thì BMV tự động điều chỉnh để đảm bảo tính liên tục của chỉ số. Một số yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến chỉ số ngành và chỉ số giá chứng khoán.
Lạm phát Lạm phát là sự gia tăng của mức giá trung bình các hàng hóa và dịch vụ trong một quãng thời gian nhất định. Đồng thời, nó cũng ám chỉ việc giá trị của một đơn vị tiền tệ cụ thể bị mất đi (N. Mức giá chung được nhắc đến ở đây là bình quân giá của một loạt hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế, đó cũng là cách để đo lường đơn vị tiền tệ về mặt giá trị. Trường hợp xảy ra sự gia tăng của mức giá trung bình, tương ứng là một số tiền lớn hơn cần được chi trả cho các hàng hóa và dịch vụ được tiêu thụ.
Dẫn đến việc giảm giá trị và khả năng mua sắm của đơn vị tiền tệ, điều này chính là hiện tượng lạm phát. Giả thuyết trung gian (Proxy hypothesis) của Fama (1981) đề xuất một mối quan hệ ngược chiều giữa suất lợi nhuận cổ phiếu và lạm phát. Mối quan hệ này bắt nguồn từ hai mối liên kết song song: sự tương quan âm giữa lạm phát và hoạt động kinh tế, cùng với tác động đồng biến giữa hoạt động kinh tế và lợi suất cổ phiếu. Lạm phát có liên quan nghịch chiều với hoạt động kinh tế.
Khi mức lạm phát tăng cao, các chi phí về nguyên vật liệu và nhiều khía cạnh khác của kinh doanh cũng tăng lên. Điều này làm tăng vốn đầu tư cho nhiều dự án, đồng thời làm giảm lợi nhuận hoặc gây thua lỗ trong kinh doanh, góp phần hạn chế sự phát triển của nền kinh tế. Mặt khác, sự tăng trưởng kinh tế thường có mối liên hệ đồng biến với tình hình thị trường chứng khoán. Khi kinh tế phát triển, thường có sự gia tăng trong thị trường chứng khoán.
Tuy nhiên, lạm phát cao thường dẫn đến tăng lãi suất ngân hàng, làm hạn chế tín dụng và làm giảm thu nhập của cá nhân và doanh nghiệp. Điều này tạo ra một tình trạng không mấy hấp dẫn cho việc đầu tư vào cổ phiếu so với lãi suất tiết kiệm ngân hàng, dẫn đến sự giảm dòng tiền đổ vào thị trường chứng khoán. Tóm lại, mối quan hệ ngược chiều giữa suất lợi nhuận cổ phiếu và lạm phát thường xuất hiện trong ngữ cảnh khi lạm phát ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế và thị trường chứng khoán. DeFina (1991) đã đưa ra luận điểm rằng, doanh thu và chi phí của công ty không được phép điều chỉnh ngay lập tức để duy trì dòng tiền tăng trưởng theo mức tỷ lệ 14 tương đương với mức lạm phát vì còn phải phụ thuộc vào các loại hợp đồng danh nghĩa.
Do đó, tác giả đã kết luận rằng có khả năng tồn tại mối quan hệ tiêu cực giữa lạm phát và chỉ số giá thị trường chứng khoán. Tỷ giá hối đoái Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Quỳnh và Võ Thị Hương Linh (2019) tỷ giá hối đoái được xem là một biến số quan trọng có tác động đáng kể đến sự cân bằng của cán cân thương mại và cán cân thanh toán, đồng thời ảnh hưởng đến sản lượng, việc làm và sự cân bằng tổng thể của nền kinh tế. Hơn nữa, hoạt động của các định chế trong nền kinh tế còn bị tác động một cách trực tiếp bởi yếu tố tỷ giá hối đoái. Theo Cecchetti và cộng sự (2006) tỷ giá hay tỷ giá hối đoái được định nghĩa là tỷ lệ quy đổi từ đồng tiền của nước này sang đồng tiền của nước khác.
Olugbenga (2012) đã thử nghiệm quan hệ nhân quả của Granger, chỉ ra được thị trường chứng khoán Nigeria chịu sự ảnh hưởng của sự biến đổi tỷ giá hối đoái. Mukherjee và Naka (1995) cũng thấy rằng mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và giá chứng khoán ở Nhật Bản và Indonesia là thuận chiều.