CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHI TRẢ BẢO HIEM TIỀN GỬI 1. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1. Lịch sử hình thành và phát triển chính sách bảo hiểm tiền gửi Từ đầu thế kỷ 20, khái niệm bảo vệ tiền gửi đã được biết đến qua hình thức “bảo vệ ngầm” trong đó Ngân hàng trung ương hoặc Chính phủ đưa ra cam kết công khai hoặc không công khai nhằm bảo đảm an toàn tiền gửi cho người dân khi xảy ra đổ vỡ ngân hàng. Cho đến nay, một số quốc gia vẫn sử dụng hình thức bảo vệ này, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng.
Sự ra đời của hoạt động BHTG gắn liền với việc chuyển từ hình thức “bảo vệ ngầm” sang hình thức BHTG công khai. Xuất phát từ ý tưởng của Joshua Forman, một thương nhân Mỹ, kế hoạch BHTG gồm 3 thành tố cơ bản là: (1) Thành lập một quỹ BHTG với nguồn tài chính được tất cả các ngân hàng đóng góp qua hình thức nộp phí; (2) Thiết lập một ủy ban thực hiện kiểm tra ngân hàng; (3) Danh mục đầu tư cụ thể đối với nguồn tài chính được các ngân hàng đóng góp. Chương trình bảo hiểm tiền gửi công khai đầu tiên được thực hiện ở New York vào năm 1829 với tên gọi “Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng”, đối tượng bao gồm tiền gửi ngân hàng và chứng chỉ huy động tiền gửi. Chương trình này áp dụng gần như toàn bộ 2 thành tố ban đầu mà Forman đưa ra.
Vào những năm 1830, các bang đã xem xét lại và triển khai chương trình BHTG trong đó thành tố thứ 3 được sửa đổi phù hợp hơn với thực tế. Từ năm 1831 đến 1858, năm bang gồm: Vermont, Indiana, Michigan, Ohio, Iowa đã thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi với sự tham gia tự nguyện của các ngân hàng. Mục đích chung của chương trình BHTG tại các bang này 5 đều nhằm: (1) bảo vệ cộng đồng khi có ngân hàng đổ bể và (2) bảo vệ người gửi tiền cá nhân và người gửi các công cụ huy động tiền gửi. Suốt 3 thập kỷ hoạt động, trừ chương trình BHTG của bang Ohio bị đổ vỡ sau một thời gian ngắn, 5 bang còn lại về cơ bản đều thực hiện được mục tiêu đề ra.
Tuy nhiên, chương trình BHTG cuối cùng đã ngừng hoạt động vào năm 1866, sau khi luật ngân hàng Quốc gia được Mỹ được thông qua vào năm 1863. Nguyên nhân chủ yếu do: (i) Sự ra đời của chính sách ngân hàng tự do ở Mỹ năm 1830 đã tạo điều kiện cho một số lượng lớn các ngân hàng có thể rút ra khỏi tổ chức bảo hiểm tiền gửi; (ii) Sau khi Luật ngân hàng quốc gia có hiệu lực, phần lớn các ngân hàng do bang cấp phép đã chuyển thành ngân hàng quốc gia nhằm tránh thuế quốc gia đánh vào đồng tiền do bang phát hành. Thời kỳ thử nghiệm tiếp theo bắt đầu vào những năm 1908 - 1917 với sự thiết lập các quỹ BHTG tại 8 bang. Tuy nhiên, những chương trình BHTG triển khai trong thời kỳ này nói chung đều không thành công.
Nguyên nhân chủ yếu do cuộc khủng hoảng nông nghiệp nghiêm trọng kéo dài trong các năm 1921 - 1929. Với sự đổ vỡ hàng loạt các ngân hàng mà chủ yếu là ngân hàng nông nghiệp nhỏ, quản lý yếu (600 ngân hàng/năm), tổng số tiền mà các quỹ BHTG phải chi trả vượt quá quy mô của quỹ. Đến đầu năm 1930, tất cả các quỹ BHTG đều mất khả năng thanh toán do hầu hết các ngân hàng rút không tham gia các quỹ này. Những năm 1929 - 1933 Mỹ bước vào giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng với sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, số lượng ngân hàng mất khả năng thanh toán và tạm thời ngừng hoạt động tăng cao.000 ngân hàng ngừng hoạt động, tổng số tổn thất của người gửi tiền lên tới 1,3 tỷ USD.
Đặc biệt việc đóng cửa 4.000 ngân hàng chỉ trong vài tháng đầu năm 1933 đã tạo ra một cơn hoảng loạn, niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng giảm sút nghiêm trọng. Trước tình hình đó, để ứng phó với tình huống và 6 nhanh chóng ổn định kinh tế, chính trị, Chính phủ cần đứng ra bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Vì vậy, năm 1933, Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (Federal Deposit Insurance Corporation - FDIC) được thành lập và bắt đầu hoạt động từ ngày 1/1/1934. Đây cũng được xem là mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi công khai đầu tiên trên thế giới.
Tiếp theo đó, hệ thống BHTG công khai dần được thiết lập trên thế giới. Trong hai thập kỷ 1960-1970, hệ thống BHTG đã được thành lập và phát triển ở các nước như: Na Uy (1961), Ấn Độ (1963), Philippines (1963), Đức (1966), Canada (1967), Phần Lan (1969), Nhật Bản (1971), Bỉ (1974), Hà Lan và Áo (1979). Đối với các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi ở khu vực Châu Âu, việc áp dụng những khuyến nghị về các thông lệ quốc tế tốt nhất để trở thành thành viên của EU là cơ hội để các nước này thành lập tổ chức BHTG của mình, chẳng hạn Hungary (1993), Cộng hòa Séc (1994), Ba Lan (1995), Rumani (1996), Cộng hòa Latvia (1998). Tại Châu Á, Philippines là nước phát triển chính sách BHTG từ rất sớm (1963).
Xu hướng thành lập hệ thống BHTG trở nên mạnh mẽ và nhanh chóng trong và sau giai đoạn khủng hoảng tài chính Châu Á: Đài Loan (1985), Hàn Quốc (1996), Việt Nam (2000), Indonesia và Hồng Kông (2004), Malaysia (2005), Singapore (2005), Thái Lan (2008). Đặc biệt, ngày 6/5/2002, Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế (International Association of Deposit Insurers - IADI) được thành lập có trụ sở tại Thụy Sỹ, là tiếng nói chung của các tổ chức BHTG thành viên. Theo thống kê của IADI, đến nay đã có 113 quốc gia trên thế giới thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi công khai để bảo vệ người gửi tiền trong đó có 79 tổ chức là thành viên của IADI. Xu hướng phát triển hệ thống BHTG trên thế giới Nguồn: IADI Số lượng các nước cân nhắc việc thực hiện chính sách BHTG công khai vẫn tiếp tục xu hướng gia tăng do bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp cả về kinh tế lẫn chính trị xã hội và những dấu hiệu bất ổn mới của kinh tế thế giới sau khủng khoảng kinh tế 2008.
Bản chất hoạt động bảo hiểm tiền gửi Theo hiệp hội các tổ chức BHTG quốc tế (IADI), BHTG được hiểu là: “một hệ thống được thiết lập để bảo vệ người gửi tiền trước những mất mát có thể xảy ra đối với tiền gửi được bảo hiểm của họ trong trường hợp tổ chức nhận tiền gửi mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền - a system established to protect depositors against the loss of their insured deposits in the event that a bank is unable to meet its obligations to the depositors ”. Theo luật Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2012), Bảo hiểm tiền gửi là “sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản ”. Như vậy, cổ thể hiểu BHTG là một cam kết công khai của tổ chức BHTG về việc sẽ hoàn trả một phần hoặc toàn bộ tiền gửi (bao gồm cả gốc và 8 lãi) cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị mất khả năng thanh toán hoặc chấm dứt hoạt động. Có thể thấy BHTG vẫn giữ đặc trưng cơ bản nhất của hoạt động bảo hiểm chính là giảm thiểu tác động xấu khi xảy ra rủi ro theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít.
Nguyên tắc này được quán triệt trong quá trình tạo lập quỹ BHTG cũng như quá trình chi trả BHTG. Ba chủ thể chính trong mối quan hệ của BHTG là người gửi tiền thuộc đối tượng được BHTG, tổ chức tham gia BHTG và tổ chức BHTG. Hợp đồng BHTG được hình thành khi tổ chức bảo hiểm tiền gửi chấp thuận đề nghị tham gia bảo hiểm tiền gửi của tổ chức có hoạt động huy động tiền gửi. Người gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG sẽ là đối tượng thụ hưởng trực tiếp khi có rủi ro xảy ra.
Tuy nhiên, BHTG cũng có nhiều điểm khác biệt cơ bản khi so sánh với các dịch vụ bảo hiểm thương mại thông thường. Bảo hiểm thương mại thường hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận và chỉ bảo vệ tài sản của từng cá nhân, còn BHTG hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, Chính phủ các quốc gia sử dụng BHTG như một công cụ chính sách công nhằm góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống tài chính và giúp ổn định xã hội. Đối tượng thụ hưởng lợi ích của BHTG là toàn xã hội chứ không đơn thuần chỉ là người có tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm. Ngoài ra, BHTG được thiết kế nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của sự bất cân xứng thông tin giữa người gửi tiền và tổ chức nhận tiền gửi.
Đối tượng mà BHTG hướng đến là số đông dân cư bị hạn chế trong việc tiếp cận, kiểm chứng thông tin và phân tích hoạt động của tổ chức nhận tiền gửi. Các đối tượng này thường có xu hướng phản ứng thái quá trước những thông tin xấu về hoạt động của tổ chức nhận tiền gửi và gây thiệt hại cho chính bản thân cũng như dễ tạo ra phản ứng dây truyền gây đổ vỡ hệ thống. Với một cam kết hoàn trả công khai của tổ chức BHTG, tác động tiêu cực của sự bất Chức năng nhiệm vụ Chi trả Chi trả Giảm 9với quyền thiểu hạn mở rủi ro rộng cân Bảo vệ người gửixứng tiền thông tin sẽ được hạn chế giúp đảm bảo tính ổn định và hoạt động 7 7 7 an toàn, Thu phí và quản hiệuBHTG lý Quỹ quả của hệ thống tài chính. Hoạt động chính của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Chi trả bảo hiểm 7 7 7 Tương tự các tổ chức bảo hiểm, BHTG có hai nghiệp vụ sơ khai nhất là tạo Thiết lập các nguồn tài trợ lập quỹ BHTG và chi trả BHTG 7 khi xảy ra sự7kiện bảo hiểm.
7 Ngoài ra, tùy thuộc Quản lý rủi ro vào mục đích và hoàn cảnh cụ thể, mỗi quốc7 7 chính sách BHTG gia sẽ xây dựng Tham gia giải và quyết đổ vỡ lựa chọn ngân thành tổ chức BHTG theo các7mô hình khác lậphàng 7 nhau. Có 3 mô hình chủ yếu Tham gia thanh khi thiết lý ngân hàngkế bịtổ đổchức vỡ BHTG với các chức năng, nhiệm vụ cơ bản như sau: 7 7 Giám sát từ xaBảng 1.