CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIÊN CHÍNH THỨC (ODA) TRONG PHÁT TRIỂN DẠY NGHỀ 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) 1. Khái niệm về ODA 1. Nguồn gốc vốn ODA Các nước đang phát triển thường trong tình trạng cơ sở hạ tầng thấp, nhân lực chưa được đào tạo đúng mức, khả năng huy động vốn trong nước hạn chế, đồng thời khó có khả năng vay vốn trên trên thị trường vốn quốc tế với lãi suất thương mại.
Vì vậy, các nước này rất khó có thể tạo được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cũng như giải quyết các vấn đề xã hội như: thiên tai, dịch bệnh, xoá đói nghèo. Tháng 12 năm 1960, tại Pari, các nước công nghiệp phát triển đã ký thoả thuận thành lập Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD). Trong khung hợp tác phát triển, các nước OECD đã lập ra các uỷ ban chuyên môn, trong đó có Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (DAC). Uỷ ban này có nhiệm vụ yêu cầu, khuyến khích và điều phối viện trợ của các nước OECD cho các nước đang và kém phát triển, nhằm giúp các nước này phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư, thông qua hình thức viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi.
Kể từ khi bản báo cáo đầu tiên của DAC ra đời vào năm 1961, thuật ngữ ODA được chính thức sử dụng, với ý nghĩa là sự trợ giúp có ưu đãi về mặt tài chính của các nước giàu, các tổ chức quốc tế cho các nước nghèo. Khái niệm ODA ODA là viết tắt của ba chữ tiếng Anh “Official Development Assistance”, có nghĩa là “Hỗ trợ phát triển chính thức” hay còn gọi là “Viện 5 trợ phát triển chính thức”. Khái niệm “Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)” được Ủy ban Hỗ trợ phát triển (DAC) đưa ra lần đầu tiên năm 1967 với ý nghĩa: những chuyển giao hỗ trợ chính thức về điều kiện tài chính ưu đãi với mục tiêu chính là xúc tiến sự phát triển kinh tế xã hội của các nước đang phát triển. Năm 1972, DAC đưa ra một định nghĩa vốn ODA đầy đủ hơn, theo định nghĩa này vốn ODA là dòng vốn từ bên ngoài dành cho các nước đang phát triển, được các cơ quan chính thức của Chính phủ trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức đa phương, các tổ chức phi chính phủ tài trợ.
Theo quy định của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Khoản 1 Điều 1 “Quy chế sử dụng và quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức” ban hành kèm theo Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính Phủ thì ODA được định nghĩa như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính Phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ.” Tóm lại, “Hỗ trợ phát triển chính thức” được gọi là “Hỗ trợ” bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài, thông thường phần không hoàn lại lớn hơn hoặc bằng 25%. Gọi là “Phát triển” vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư. Gọi là “Chính thức” vì nó thường là cho Nhà nước vay. Như vậy, một cách chung nhất, vốn hỗ trợ phát triển chính thức là khoản vốn vay ưu đãi từ các tổ chức nước ngoài hỗ trợ cho các nước đang và kém phát triển để tạo điều kiện cho các nước này phát triển kinh tế xã hội.
Đặc điểm của vốn ODA Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trong những điều kiện nhất định, một phần tổng sản phẩm quốc dân từ các nước phát triển sang các nước đang và kém phát triển. Do vậy, ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội từ phía nước cung cấp cũng như từ phía nước tiếp nhận ODA. Vì vậy, vốn ODA có những đặc điểm sau: Thứ nhất: Vốn ODA là nguồn vốn có tính ưu đãi của các nước phát triển, các tổ chức quốc tế tài trợ cho các nước đang và kém phát triển. Với mục tiêu trợ giúp các nước đang và kém phát triển, vốn ODA mang tính ưu đãi hơn bất cứ nguồn tài trợ nào khác: • Khối lượng vốn vay lớn từ hàng chục đến hàng trăm triệu dollar Mỹ.
• Vốn ODA có thời gian cho vay (thời gian hoàn trả vốn) dài, thời gian ân hạn (thời gian chỉ trả lãi, chưa trả nợ gốc) dài. Ví dụ: Vốn ODA của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA). có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn là 10 năm. • Thông thường vốn ODA có một phần viện trợ không hoàn lại, phần này thường không dưới 25% tổng số vốn vay.
Ví dụ, OECD thường viện trợ không hoàn lại 20-25% tổng vốn ODA, CHLB Đức viện trợ không hoàn lại 25% tổng vốn ODA. • Các khoản vay thường có lãi suất thấp, thậm chí không có lãi suất: Lãi suất vốn vay ODA dao động từ 0,5 % đến 5 %/năm (trong khi lãi suất vay trên thị trường tài chính quốc tế là trên 7 %/năm và hàng năm phải thoả thuận lại lãi suất giữa hai bên). Ví dụ: lãi suất vốn vay ODA của Ngân hàng Phát triển Châu Á là 1%/năm; của Ngân hàng Thế giới là 0,75 %/năm. Thứ hai: Vốn ODA thường kèm theo các điều kiện ràng buộc nhất định.
7 Tuỳ theo khối lượng và loại hình viện trợ mà vốn ODA có thể kèm theo những điều kiện ràng buộc nhất định. Những điều kiện ràng buộc này có thể là ràng buộc một phần và cũng có thể là ràng buộc toàn bộ về kinh tế, xã hội và thậm chí cả ràng buộc về chính trị. Đó là một công cụ lợi hại để thiết lập, duy trì lợi ích kinh tế và vị thế chính trị cho các nước tài trợ. Những nước cấp tài trợ đòi hỏi nước tiếp nhận phải thay đổi chính sách phát triển kinh tế, chính trị cho phù hợp với lợi ích của nước mình.
Các ràng buộc này có thể dẫn đến thay đổi về đường lối phát triển, các quy định về xuất nhập khẩu, thuế, hải quan.theo hướng mở cửa và có lợi cho các nước viện trợ. Thông thường, các ràng buộc kinh tế kèm theo thường là các điều kiện về mua sắm, cung cấp thiết bị, hàng hoá và dịch vụ của nước tài trợ đối với nước nhận tài trợ. Ví dụ, lãi suất vốn ODA viện trợ của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản JICA theo quy định thường là 1,8%/năm tuy nhiên, nếu nước nhận viện trợ cam kết mua thiết bị từ Nhật Bản thì lãi suất là 1,2%/năm. Như vậy, nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích cho nước viện trợ.
Các nước nhận viện trợ nhận được nguồn tài chính với nhiều ưu đãi. Trong khi đó, các nước viện trợ sẽ có lợi về mặt an ninh, kinh tế, chính trị khi kinh tế các nước nghèo tăng trưởng. Các nước này vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ. Từ đặc điểm này cho thấy, các nước tiếp nhận ODA cần cân nhắc kỹ lưỡng những điều kiện của các nhà tài trợ, không vì lợi ích trước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài.
Quan hệ hỗ trợ phát triển phải đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Thứ ba: ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ. Vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Vì vậy, nếu 8 sản xuất trong nước không phát triển, xuất khẩu không tăng lên, các nước nhận ODA sẽ không có nguồn thu ngoại tệ để trả nợ.
Hoặc nếu sản xuất trong nước có phát triển nhưng không xuất khẩu được thì nước nhận ODA phải dùng nội tệ mua ngoại tệ để trả nợ. Việc mua bán đó sẽ phụ thuộc vào nguồn ngoại tệ và tỷ giá ngoại tệ trên thị trường quốc tế. Điều đó dẫn đến rủi ro cho nước nhận viện trợ. Do đó, các nước nhận ODA phải sử dụng sao cho có hiệu quả, tránh lâm vào tình trạng không có khả năng trả nợ.
Từ những đặc điểm trên cho thấy, vốn ODA vừa tạo ra những thời cơ, vừa tạo ra những thách thức cho các nước tiếp nhận. Do vậy, việc sử dụng hiệu quả vốn ODA là con đường duy nhất để các nước tiếp nhận vừa phát triển vừa thoát khỏi sự lệ thuộc về kinh tế, chính trị đối với các nước tài trợ. Phân loại vốn ODA 1. Phân loại theo hình thức cấp Vốn ODA không hoàn lại: Là hình thức cung cấp vốn ODA mà nước nhận viện trợ không phải hoàn trả vốn và lãi cho bên viện trợ.
Vốn ODA vay ưu đãi: Là khoản vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm “yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc. Những điều kiện ưu đãi thường áp dụng bao gồm: • Lãi suất từ 0% đến 5%/năm; • Thời gian vay nợ dài (15 năm đến 40 năm); • Thời gian ân hạn (thời gian không trả lãi hoặc hoãn trả nợ) từ 10 năm đến 12 năm để vốn vay có thời gian phát huy hiệu quả. Vốn ODA hỗn hợp: Là khoản vốn ODA kết hợp một phần vốn ODA không hoàn lại với một phần vốn ODA vay ưu đãi, hoặc vốn ODA không hoàn lại, hoặc vốn ODA vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản 9 tín dụng thương mại, nhưng tính chung lại có “yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc. Phân loại theo hình thức tài trợ Vốn ODA song phương: Là khoản vốn tài trợ trực tiếp từ nước này đến nước kia thông qua hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ.